Trang chủ 60 Năm chiến thắng Điện Biên Phủ Một sự kiện truyền lại lẽ sống cho đời sau

Một sự kiện truyền lại lẽ sống cho đời sau

Từ Điện Biên Phủ và qua Điện Biên Phủ, thế hệ trẻ hôm nay được giáo dục những giá trị của truyền thống bất khuất, kiên cường và tinh thần chiến đấu quả cảm để hướng đến tương lai hòa bình, phát triển và nhân văn. 

Một sử gia đã nói: Truyền lại một ký ức và làm sống lại một bản sắc không phải chỉ là để lại một di sản mà còn là vạch ra một cách sống. Việc làm sống lại lịch sử hào hùng qua những sự kiện, những nhân vật còn là khơi dậy ý thức về quá khứ ở thế hệ sau, chuyển thành/vào những điều hiện hữu trong hiện tại, đặt cơ sở cho sự phát triển tương lai. Điện Biên Phủ là sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc và là sự kiện xứng đáng để truyền lại lẽ sống cho đời sau.

bo doi ta

Bộ đội ta giữ vững trận địa sau những trận chiến giằng co liên tiếp

Điện Biên Phủ không chỉ là sự kết thúc thắng lợi một cuộc kháng chiến chống xâm lược trường kỳ, gian khổ của nhân dân Việt Nam, mà còn là sự khởi đầu cho phong trào cách mạng giải phóng dân tộc mạnh mẽ của nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh xóa bỏ ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân trong lịch sử thế giới cận - hiện đại. Việt Nam, với Điện Biên Phủ, đã nêu cao tấm gương, bài học: Một dân tộc nhỏ yếu có thể đánh bại một cường quốc hùng mạnh khi nhân tố con người đã trở thành quyết định, vượt lên trên các yếu tố tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự.

Với nhân dân Việt Nam, Điện Biên Phủ là một dấu mốc lịch sử khẳng định ý chí và sức mạnh của dân tộc. Chiến thắng này là sự kế thừa thành quả của Cách mạng tháng Tám 1945 và là tiền đề cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Chiến thắng Điện Biên Phủ ghi dấu sự trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam - một quân đội phát triển “từ con số 0”, đến thời điểm đó mới có khả năng tiêu diệt được từng tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc và thường chỉ đánh trong đêm, nhưng ở Điện Biên Phủ, cũng những chiến sĩ đó đã tiêu diệt 21 tiểu đoàn (đại bộ phận là lực lượng tinh nhuệ nhất của Pháp) phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương khi đó - với 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm được xây dựng kiên cố, được tiếp viện bằng máy bay. Cuộc chiến đấu đã kéo dài liên tục 56 ngày đêm với những đỉnh cao của mức độ ác liệt. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo nên chỗ dựa vững chắc, tạo nên lực lượng và ý chí, niềm tin và kinh nghiệm để quân và dân Việt Nam trên cả hai miền Nam, Bắc tiếp tục đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước. Sau này Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho biết: Trong quá trình kháng chiến chống Mỹ, hàng triệu thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu, trong đó hàng vạn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã lập công xuất sắc. Hàng ngàn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có 3 trong 4 tư lệnh quân đoàn từng là trung đoàn trưởng chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

nghia trang liet si dien bien phu

Nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ

Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đã làm cho ba tiếng “Điện Biên Phủ” trở thành biểu tượng của sức mạnh Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại đó được làm nên từ  nguồn gốc sâu xa là truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí quật cường, bất khuất, trí thông minh, sáng tạo, tình đoàn kết nhân ái - là những nhân tố chủ yếu tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử.

Tinh thần Điện Biên Phủ trước hết là tinh thần yêu nước, là tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là tinh thần bất khuất không cam chịu làm nô lệ, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, quyết chiến, quyết thắng; là sự kết hợp tinh thần dũng cảm kiên cường với trí thông minh sáng tạo và những nỗ lực phi thường để khắc phục những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, làm được những việc tưởng chừng không thể làm nổi, tạo nên bước tiến vượt bậc về khả năng và sức mạnh chiến đấu để đánh bại kẻ thù cho dù chúng có những cố gắng chiến tranh cao nhất.

Sức mạnh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh của toàn dân, của cả nước. Sức mạnh của toàn quân, toàn dân, từ tiền tuyến đến hậu phương đã được động viên vào trận quyết chiến Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên chúng ta tập trung 5 sư đoàn chủ lực mạnh vào một trận đánh, động viên các chiến trường trên toàn Đông Dương chiến đấu phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Chúng ta đã huy động sức người, sức của từ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, Tây Bắc, Việt Bắc và cả nhiều tỉnh vùng địch tạm chiếm ở Bắc Bộ để chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Hơn 26 vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, đi thanh niên xung phong tham gia làm đường, vận tải tiếp tế, phục vụ chiến dịch, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hơn 500 km, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ thiếu thốn, thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt. Theo tính toán của tác giả Jules Roy trong cuốn sách Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp thì: “Một người dân công mang được tối đa 22kg, mỗi ngày đi được 20km và sẽ ăn hết 1kg gạo. Vì họ phải đi và về nên số gạo tiêu thụ sẽ là 2kg cho 20km. Muốn đi 180km thì ăn hết 18kg gạo. Do đó số gạo mang để tiếp tế cho chiến trường thực tế chỉ còn 4kg”. Nhưng thực tế đã không diễn ra như những phép tính số học đó. Trong một thế trận tổng hợp - tổng lực phân tán lực lượng của địch, cung cấp hậu cần, vật chất cho mặt trận Điện Biên Phủ, quân và dân Việt Nam làm nên kỳ tích vĩ đại mà đối phương không thể dự đoán. Điều bất ngờ đó đã dẫn đến thất bại của địch. Jules Roy cũng đã viết: “Không phải viện trợ bên ngoài đã đánh bại tướng Nava mà chính là những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200 - 300kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ni lông. Cái đã đánh bại tướng Nava không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương’’.

Hôm nay, tinh thần đó, ý chí đó cần được phát huy. Sức mạnh cơ bản để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay đã được xác định vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để làm nên thắng lợi Đông - Xuân 1953-1954 và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ có yếu tố quan trọng là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của một bộ chỉ huy thao lược, tài ba với những cá nhân xuất sắc. Sự lãnh đạo đó không những thể hiện ở đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, ở sự chỉ đạo chiến lược và chiến thuật tài tình trên chiến trường mà điều quan trọng còn thể hiện ở vai trò tiên phong hy sinh gương mẫu của những người đảng viên - không ít trong số đó là những đảng viên có tuổi đời và tuổi đảng còn rất trẻ. Trước những thử thách ác liệt của trận Điện Biên Phủ, biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong chiến đấu, không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Ngày nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình mới càng đòi hỏi vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên để bảo đảm thành công.

Tinh thần Điện Biên Phủ được toát lên qua những quyết định chỉ huy mang tính chiến lược đã tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm thực tiễn, không chủ quan duy ý chí, luôn bám sát sự phát triển của thực tiễn, khi tình hình đã thay đổi thì trong khi giữ vững quyết tâm tấn công diệt địch vẫn kịp thời và kiên quyết thay đổi cách đánh (dù cách đánh ấy đã được quyết định và đang được triển khai), tìm ra cách đánh phù hợp để giành thắng lợi. Đây là bài học sâu sắc nhất về lãnh đạo và chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bài học đó vẫn đang có ý nghĩa lớn khi chúng ta đang phát huy tinh thần Điện Biên Phủ để nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, ý chí tự lực tự cường, không cam chịu nghèo nàn và lạc hậu, quyết tâm vượt qua thách thức, phát huy trí thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm để làm nên nhiều “Điện Biên Phủ mới” trong sự nghiệp xây dựng đất nước, trên nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội...

Tinh thần thực tiễn và sáng tạo của Điện Biên Phủ cần được phát huy - đặc biệt là với thế hệ trẻ, với những người có tư duy năng động. Đó là tinh thần luôn gắn lý luận với thực tiễn; coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý; luôn bám sát thực tiễn, phát hiện, phân tích, nhận thức đúng đắn những xu hướng phát triển mới, ứng phó với những biến động nhanh và mạnh mẽ của tình hình thế giới và trong nước. Mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, luôn cần quyết tâm giữ vững nhưng khi thực tiễn đã thay đổi thì kiên quyết và kịp thời thay đổi, bổ sung những chủ trương, chính sách, biện pháp - dù có những vấn đề đã thành quyết định, nghị quyết nhưng không còn phù hợp, không có hiệu quả. Không chủ quan, duy ý chí, không bảo thủ, giáo điều, dừng lại ở nhận thức và quan điểm cũ đã lỗi thời mới có thể đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi.

TS. Ngô Vương Anh

Báo Nhân dân