Trang chủ 60 Năm chiến thắng Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ với việc kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

Điện Biên Phủ với việc kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

Giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ là cuộc chạy đua quyết liệt nhất giữa quân đội và nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược trên con đường đi tới bàn đàm phán hòa bình ở Giơnevơ để kết thúc chiến tranh. Với chiến thắng Điện Biên Phủ quân đội và nhân dân Việt Nam đã đập tan cố gắng cao nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của Chính phủ Pháp với sự giúp sức của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai, làm sụp đổ ý chí thực dân và tiêu tan hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự của họ, tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ, kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc.

Những ý tưởng kết thúc chiến tranh bằng con đường đàm phán hòa bình và nỗ lực giành lợi thế về quân sự

Ý tưởng đàm phán để kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương xuất hiện từ nhiều phía trước lúc diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực ở Điện Biên Phủ, mà bên nào cũng muốn giành lợi thế.

Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, khi chiến tranh lạnh lên tới đỉnh cao, đồng thời có những cuộc chiến tranh nóng ở châu Á, cũng là lúc xu thế hòa hoãn xuất hiện giữa các nước lớn.

Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) chấm dứt bằng một thỏa hiệp quân sự tại Bàn Môn Điếm (27-7-1953). Thực chất đó là một cuộc đọ sức giữa hai phe mà không phân thắng bại, phản ánh tương quan lực lượng quốc tế đang ở thế cân bằng. Xu thế hòa hoãn xuất hiện. Các nước lớn đều cho rằng cần giải quyết cuộc chiến tranh nóng đang diễn ra ở Đông Dương.

Liên Xô mong muốn đi đến giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương nhằm ngăn chặn việc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh ở đây và thúc đẩy xu thế làm dịu tình hình thế giới. Liên Xô chủ trương triệu tập một hội nghị năm nước lớn (Liên Xô, Anh, Mỹ, Pháp và Trung Quốc) để tìm biện pháp giảm bớt tình hình căng thẳng ở Viễn Đông.

Trung Quốc, một trong những nước viện trợ lớn nhất cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, cũng chủ trương sớm giải quyết hòa bình cuộc xung đột ở Đông Dương nhằm ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh, bảo đảm hòa bình và an ninh cho Trung Quốc và khu vực Viễn Đông. Xã luận Nhân dân nhật báo (3-9-1953) khẳng định: dư luận châu Á và phần còn lại của thế giới đòi hỏi rằng cuộc đình chiến ở Triều Tiên phải đưa đến hòa bình ở toàn châu Á.

Anh còn nhiều quyền lợi ở Đông Nam Á, không muốn chiến tranh ở khu vực này mở rộng và bị quốc tế hoá, cũng cho rằng đình chiến ở Triều Tiên sẽ dẫn tới việc đàm phán về những vấn đề rộng lớn hơn, trong đó có Đông Dương.

Mỹ là nước không muốn dùng giải pháp đàm phán hòa bình với Việt Minh để giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dương, mà muốn Pháp trao trả “độc lập hoàn toàn” cho chính quyền Bảo Đại. Sau khi đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương, tăng cường viện trợ cho Pháp nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh, phản đối việc thương lượng. Mỹ sợ “để mất Đông Dương vào tay cộng sản” và làm “nguy kịch cho nền an ninh của Mỹ”. Đông Dương được Mỹ đặt trong phòng tuyến chống cộng ở châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh quốc tế lúc đó, Mỹ chưa có điều kiện đưa quân tham chiến trực tiếp ở Đông Dương, mà chủ trương tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp, giúp Pháp giành thắng lợi trên chiến trường, buộc đối phương phải chấp nhận một giải pháp có lợi cho Mỹ.

Tháng 1-1954, Hội nghị ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béclin bàn về biện pháp làm dịu tình hình căng thẳng trong quan hệ quốc tế, vấn đề nước Đức và nhiệm vụ bảo đảm an ninh của châu Âu và vấn đề thống nhất nước Áo. Liên Xô có nhượng bộ, tạm gác các vấn đề Đức, an ninh châu Âu, giải trừ quân bị, để tập trung giải quyết cuộc chiến tranh nóng ở châu Á. Các nước này quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế tại Giơnevơ để bàn về một giải pháp chính trị cho Triều Tiên và giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương.

keo phao thanh cong

Cùng với quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, Đảng và Chính phủ Việt Nam chủ trương kết hợp với một giải pháp ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến. Ngày 26-11-1953, trả lời điện phỏng vấn của chủ bút báo Tin nhanh (Thụy Điển), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nguyên nhân và tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tuyên bố lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đàm phán với Pháp để kết thúc chiến tranh trên cơ sở “Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”1. Trong Thông tri ngày 27-12-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ: “Trong lịch sử, có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng hòa bình mà đi đến đình chiến”. “Nhân dân ta chiến đấu chống bọn xâm lược là vì độc lập dân tộc, mà cũng vì hòa bình thế giới. Thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kẻ thù của dân tộc ta, đồng thời cũng là kẻ thù của nhân dân thế giới”. “Ngọn cờ hòa bình phải do tay ta nắm lấy và giương cao lên2. Đảng chủ trương trong đàm phán hòa bình cần có sự nhân nhượng lẫn nhau: “Muốn đàm phán có kết quả thì ta phải nhân nhượng, nhưng nhân nhượng có chừng mực, trong nguyên tắc, và đối phương cũng phải nhân nhượng với ta”3.

Về phía Pháp, giới cầm quyền nhận thấy càng kéo dài và mở rộng chiến tranh, Pháp càng bị tổn thất nặng nề. Cuộc chiến tranh Đông Dương trở thành một gánh nặng về tâm lý và kinh tế đối với nước Pháp, buộc Pháp phải nhận viện trợ và lệ thuộc Mỹ, bị dư luận nước Pháp và quốc tế lên án mạnh mẽ. Phong trào phản đối “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” (La sale guerre) ở Pháp dâng cao. Nội bộ giới cầm quyền chia rẽ, đấu tranh gay gắt với nhau trong chính phủ và quốc hội, làm cho nội tình nước Pháp không ổn định, phải thay đổi chính phủ nhiều lần. Chính phủ Pháp muốn thoát khỏi chiến tranh bằng một giải pháp danh dự, nhưng là đàm phán trên thế mạnh. Vì thế, tháng 5-1953, Đại tướng Nava được cử sang làm Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Kế hoạch quân sự Nava được vạch ra, được Hội đồng Chính phủ và Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua (7-1953), nhằm giành thắng lợi về quân sự, buộc đối phương phải đàm phán theo điều kiện do Pháp đặt ra, nếu không sẽ bị quân đội Pháp tiêu diệt. Song, kế hoạch đó đã không thể thực hiện được theo dự kiến, mà hoàn toàn bị đảo lộn do những cuộc tiến công chủ động và kiên quyết của Quân đội nhân dân Việt Nam trên những hướng chiến lược quan trọng mà quân Pháp không thể bỏ. Nhưng, Pháp chưa chịu bó tay, mà điều chỉnh kế hoạch quân sự Nava, chọn Điện Biên Phủ làm khâu chính, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, “một pháo đài không thể công phá”, một “cái bẫy” để thu hút chủ lực ta tới đó mà tiêu diệt. Ngoài lực lượng bộ binh, thiết giáp, pháo binh, Bộ Chỉ huy quân Pháp “đã ném tất cả lực lượng không quân (của Pháp ở Đông Dương - TG) vào cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ... Chưa bao giờ sự tập trung không quân lớn như thế ở chiến trường Đông Dương”. Quân Pháp hoàn toàn có ưu thế về hỏa lực và phương triện chiến tranh, nhất là lượng đạn pháo, máy bay và xe tăng.

Như vậy, cho dù động cơ và mục đích có khác nhau, nhưng giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương đã trở thành ý tưởng của nhiều cường quốc trên thế giới. Riêng Pháp và Việt Nam, vẫn còn gắng sức giải quyết một nước cờ quyết định trong ván cờ Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ - trận quyết định trước lúc hòa đàm

Để làm thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự Nava, quân đội và nhân dân Việt Nam phải thắng Pháp ở Điện Biên Phủ. Quyết định chọn Điện Biên Phủ để tiến hành trận quyết chiến chiến lược là sự cân nhắc thận trọng của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng chỉ huy. Xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một âm mưu hết sức nguy hiểm của quân Pháp, nhưng chúng có những chỗ yếu rất cơ bản: Một là, đây là sản phẩm của thế bị động về chiến lược, chứ không phải là sản phẩm của thế thắng, thế mạnh, thế chủ động; hai là, Điện Biên Phủ lại nằm sâu giữa rừng núi Tây Bắc hiểm trở, quân Pháp chỉ có đường tiếp tế duy nhất là đường không, nên rất dễ bị bao vây, cô lập. Phía Việt Nam, tuy có khó khăn lớn về vận chuyển, tiếp tế, do Điện Biên Phủ ở xa hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến, nhưng sức mạnh của nhân dân có khả năng khắc phục được.

Điện Biên Phủ trở thành “điểm hẹn lịch sử”, nơi cả hai bên đều dốc sức để giành phần thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng”4. Bộ Chính trị khẳng định: “Chiến dịch Điện Biên Phủ đối với tình hình quân sự và chính trị ở Đông Dương… có một ý nghĩa rất quan trọng, nhất là trong lúc Hội nghị Giơnevơ sắp họp. Bởi vậy ta phải kiên quyết giành toàn thắng cho chiến dịch này”5.

Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy quyết định tập trung cho mặt trận Điện Biên Phủ 5 đại đoàn (gồm 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công - pháo) với hơn 50.000 quân. Sức người, sức của từ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, Tây Bắc, Việt Bắc, đến nhiều tỉnh trong vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ được huy động cho Điện Biên Phủ. Hàng chục vạn dân công và thanh niên xung phong hăng hái phục vụ chiến dịch, nhất là trên mặt trận giao thông vận tải. Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng mặt trận. Với thiên tài quân sự và sự phân tích cẩn trọng những diễn biến cụ thể trên chiến trường, để bảo đảm đánh chắc thắng, ông đã đi đến một quyết định đầy trách nhiệm, cũng là “quyết định khó khăn nhất” trong cuộc đời cầm quân của ông: thay đổi phương châm tác chiến, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Ngày 26-4-1954, Hội nghị Giơnevơ bắt đầu họp về vấn đề Triều Tiên, nhưng không đi đến một giải pháp nào. Thời gian Hội nghị bàn về Triều Tiên là lúc quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ đang lâm vào tình hình nguy kịch. Sau khi các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt, quân Pháp ở Bản Kéo buộc phải ra hàng. Từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4-1954, hàng loạt cứ điểm ở khu Đông Mường Thanh bị tiêu diệt. Từ ngày 1-5-1954, khu trung tâm bắt đầu bị tiến công dồn dập. Chiều ngày 7-5-1954, cờ Quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cátxtơri. Toàn bộ Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ ra hàng.

Những nỗ lực quân sự của thực dân Pháp bị thất bại liên tiếp. Theo đánh giá của tướng Êly, tháng 5-1954, bản đồ chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tồi tệ hơn nhiều so với dự kiến trước. Thất bại ở Điện Biên Phủ đã làm tan tành cố gắng lớn nhất của thực dân Pháp với sự giúp sức của đế quốc Mỹ, làm cho họ không thể tiếp tục hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự, phong trào phản chiến ở Pháp càng dâng cao. Lanien và Biđôn phải từ bỏ chủ trương thương lượng trên thế mạnh. Nội bộ giới cầm quyền Pháp càng thêm chia rẽ, lục đục, đấu tranh gay gắt với nhau. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, là lợi thế của Việt Nam trên bàn đàm phán, tạo thêm cơ sở thực lực về quân sự cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương. Sau khi Chính phủ Lanien sụp đổ, Chính phủ Măngđét Phơrăngxơ lên thay (6-1954), chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng, hứa với Quốc hội và nhân dân Pháp sẽ lập lại hòa bình ở Đông Dương trong vòng một tháng. Thế là so với những năm đầu chiến tranh, ý chí xâm lược của thực dân Pháp đã bị đánh bại, thái độ của giới cầm quyền Pháp buộc phải thay đổi. Họ cần tới bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh, tránh để cho Hà Nội hoặc đồng bằng Bắc Bộ có thể trở thành “một Điện Biên Phủ thứ hai”, nơi mồ chôn quân viễn chinh Pháp.

Sáng ngày 8-5-1954, Quốc hội Pháp nghe Thủ tướng Lanien công bố sự thất thủ ở Điện Biên Phủ. Cùng lúc, tại Hội nghị Giơnevơ, đoàn đại biểu Pháp đến dự họp. Ngoại trưởng Biđôn thông báo với Hội nghị tin quân Pháp thất trận và đề nghị chấp thuận về nguyên tắc của một cuộc tổng ngưng chiến tại Đông Dương. Buổi chiều hôm đó Tổng thống Aixenhao họp Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ để thông báo về kết cục bi thảm của quân viễn chính Pháp ở Điện Biên Phủ.

Ở Việt Nam, tình hình khác hẳn, cả dân tộc, từ vùng tự do đến vùng còn tạm bị quân Pháp chiếm đóng, “vui hát khải hoàn ca”6. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ thông báo quyết định khao quân và thưởng cho mỗi người huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Tại Giơnevơ, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào Hội nghị với tư thế của người chiến thắng.

Giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ là cuộc chạy đua quyết liệt nhất, giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược trên con đường đi tới bàn đàm phán hòa bình ở Giơnevơ để kết thúc chiến tranh. Điện Biên Phủ là kết cục bi thảm của quân đội Pháp, nhưng lại là thắng lợi của sức mạnh dân tộc Việt Nam làm cho “cả thế giới xôn xao”.

Thế là, một ngày sau khi tiếng súng ở Điện Biên Phủ ngừng nổ, vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Giơnevơ. Hội nghị diễn ra trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự dàn xếp của các nước lớn. Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó, theo xu thế chung giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng hòa bình, giữa lúc cả Liên Xô và Trung Quốc không muốn tiếp tục giúp đỡ nhân dân các nước Việt Nam, Lào và Campuchia đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên cao hơn nữa và xuất phát từ tương quan lực lượng trên chiến trường, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa chấp nhận ký Hiệp định (21-7-1954), mặc dù chưa đạt được mục tiêu cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, kết thúc một chặng đường trong quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ của dân tộc Việt Nam để đi tới độc lập, tự do.

PGS. TS. Vũ Quang Hiển

Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

1, 4, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.8, tr. 340, 431, 471.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14, tr.555, 556.

3, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.15, tr.181, 88.