Trang chủ 60 Năm chiến thắng Điện Biên Phủ Từ Điện Biên Phủ suy ngẫm về thất bại của chiến tranh xâm lược thời nay

Từ Điện Biên Phủ suy ngẫm về thất bại của chiến tranh xâm lược thời nay

Năm tháng qua đi, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng của thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi nhất của các dân tộc bị áp bức. Trong tác phẩm nổi tiếng mang tên Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng chiến dịch quan trọng này đã nhận định rằng, Điện Biên Phủ là mồ chôn ý đồ các cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay.

tu dien bien phu

Hội nghị Trung Giã (4-7-1954) giữa Việt Minh và thực dân Pháp, bàn về việc Pháp rút khỏi Đông Dương sau trận Điện Biên Phủ.

Quả đúng như vậy, bằng thắng lợi ở Điện Biên Phủ đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Việt Nam đã mở đầu kỷ nguyên sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Về sau, bằng thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và nhiều thành phố khác trên miền Bắc và bằng chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, Việt Nam đã mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới trên thế giới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ - chân lý của thời đại

Nhận định về ý nghĩa mang tính thời đại sâu sắc của chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”1.

Điện Biên Phủ là nơi đụng đầu lịch sử không chỉ mang tính dân tộc mà còn mang tính thời đại. Đó là cuộc chiến sinh tử giữa một bên là toàn dân tộc Việt Nam khát khao hướng tới nền độc lập, tự do như đã được khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trong ngày Quốc khánh 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử và bên kia là lực lượng thực dân xâm lược, đứng đầu là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Sự thất bại thảm hại của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ở Điện Biên Phủ không chỉ là thất bại về quân sự mà còn là thất bại về chính trị. Một sĩ quan Pháp sống sót ở trận Điện Biên Phủ kể lại: “Trong trại tù binh, chúng tôi được đối mặt với Việt Minh bằng xương thịt. Rõ ràng, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại một cuộc cách mạng mà không biết cuộc cách mạng ấy là gì. Điện Biên Phủ không phải là một tai nạn bất ngờ của số phận mà là sự phán xử”. Thắng lợi này đã chứng tỏ sức mạnh trong cuộc chiến đấu chính nghĩa chống đế quốc xâm lược. Tờ Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) số ra ngày 9-5-1954 đã viết: “Chiến thắng Điện Biên Phủ một lần nữa làm cho toàn thế giới thấy rằng nhân dân ViệtNamđã vùng dậy và không có một lực lượng nào có thể khuất phục”.

Thắng lợi vĩ đại của Điện Biên Phủ làm sáng tỏ một chân lý của thời đại ngày nay là, một dân tộc dù nhỏ, nhưng đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chiến đấu theo một đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, có khả năng thắng mọi kẻ thù xâm lược, dù chúng có quân đội nhà nghề thiện chiến, được trang bị hiện đại. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Marốc Ariyata, đã khẳng định chân lý của thời đại mà nhân dân Việt Nam đã làm sáng tỏ: Việt Nam đã chứng minh có sức thuyết phục rằng, một đội quân xâm lược, dù mạnh tới đâu, cũng có thể bị một dân tộc dù còn nghèo khó và thiếu thốn phương tiện, nhưng biết đoàn kết triệu người như một chiến đấu vì sự nghiệp chính nghĩa, đánh bại.

Nhiều nước bị áp bức và bị xâm lược trên thế giới đã nhìn thấy ở Việt Nam tấm gương của ý chí và tình đoàn kết triệu người như một quyết chiến đấu để đánh bại đội quân xâm lược vì niềm khát khao cháy bỏng giành “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và lời kêu gọi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Tấm gương đó đã cổ vũ, khích lệ nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc chiến đấu chống lại các đội quân thực dân xâm lược, giải phóng đất nước.

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ nói riêng và ở Việt Nam nói chung, thực dân Pháp đã phải đụng đầu với sự vùng dậy không gì cản nổi của nhân dân Angiêri trong một cuộc chiến kéo dài 8 năm, cuối cùng phải thừa nhận độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Angiêri (7-1962), chấm dứt nền thống trị 132 năm của Pháp ở quốc gia này. Cùng với thắng lợi của nhân dân Angiêri, nhiều cuộc đấu tranh khác của các nước thuộc địa Pháp cũng giành được thắng lợi. Chỉ trong vòng 8 năm (1954-1962), thực dân Pháp phải cam chịu thất bại trước làn sóng đòi độc lập của nhân dân nhiều nước khác, buộc phải trao trả độc lập cho nhiều nước thuộc địa ở châu Phi. Nếu như trước Chiến tranh thế giới thứ hai, ở châu Phi chỉ mới có hai nước giành được độc lập trên danh nghĩa (Êtiôpia và Libêria), thì đến năm 1968, đã có 39 nước, bao gồm 85% lãnh thổ và 93% dân số toàn lục địa thoát khỏi hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp và Anh. Tính đến giữa những năm 60 thế kỷ XX đã có gần 70 nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh giành được độc lập. Đồng chí Uyliêm Phôxtơ, Chủ tịch Đảng Cộng sản Mỹ, đã từng viết: “Quân đội Hồ Chí Minh phá tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một sự kiện có ý nghĩa rất lớn. Điện Biên Phủ đánh dấu không chỉ là thất bại thảm hại của riêng thực dân Pháp, một kẻ đã cố liều mạng để âm mưu xâm chiếm đất nước Đông Dương giàu đẹp, mà trước hết là thất bại của kế hoạch chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cho tự do hòa bình thế giới”.

Chính Tổng thống Mỹ J. Kennedy đã gián tiếp thừa nhận: “Qua nghiên cứu chúng ta thấy rằng cách mạng giải phóng dân tộc là một sự kiện cơ bản của thời đại chúng ta. Sức mạnh to lớn nhất trên thế giới chính là lòng khát khao giành được độc lập dân tộc”. Trên tờ Người quan sát, các tác giả G. Boudarel và F. Cavigllioli viết: “Điện Biên Phủ là một trong những trận giao chiến đã làm thay đổi số phận thế giới”.

Hội chứng Việt Nam - "mồ chôn" các ý đồ xâm lược thời nay

Sau chiến tranh lạnh, quan hệ giữa các nước đã có nhiều thay đổi, cậy thế không còn quốc gia nào có thể ngăn cản tham vọng giành quyền bá chủ và kiểm soát cả thế giới, Mỹ và Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã ngang nhiên tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược dưới nhiều hình thức khác nhau, ngoài hình thức mang các đội quân hùng mạnh đi ném bom, bắn phá các nước như trước đây, còn có những hình thức “xâm lược mềm” khác bằng kinh tế, văn hóa và chính trị như “xúc tiến dân chủ”, “cách mạng sắc màu”, “chống khủng bố”, “Mùa xuân Arập”, “chiến dịch can thiệp nhân đạo”, v.v..

Thí dụ, để tiến hành chiến tranh xâm lược Ápganixtan, Mỹ và NATO mượn cớ thực hiện cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố để thực hiện chiến dịch quân sự mang tên “Tự do bền vững”. Hay là, để xâm lược Irắc, Mỹ và NATO tạo ra cớ nước này “sở hữu vũ khí hóa học” và “có quan hệ với khủng bố quốc tế” để tiến hành chiến dịch quân sự mang tên “tự do cho người dân Irắc”. Tuy nhiên, dù núp dưới bất cứ nguyên cớ gì, hay mang những cái tên mỹ miều thế nào, thì đó vẫn là các cuộc chiến tranh xâm lược, vi phạm thô bạo chủ quyền của các quốc gia, xâm hại quyền tự do và độc lập của các dân tộc. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến Mỹ và NATO thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan. Sa lầy ở Irắc từ năm 2003, đến năm 2011, Mỹ buộc phải rút quân khỏi đất nước này. Bế tắc ở Ápganixtan từ năm 2001, Mỹ và NATO buộc phải rút quân khỏi đây vào năm 2014.

Nhận xét về thất bại của Mỹ và NATO ở Irắc và Ápganixtan, dư luận ở Mỹ và nhiều nước cho rằng Mỹ đã vấp phải “Việt Nam thứ hai” trong các cuộc chiến tranh này. Có thể thấy, tuy cách so sánh này là khập khiễng nhưng trong đó có một phần chân lý. Đó là, mọi cuộc chiến tranh xâm lược rút cuộc đều thất bại do đi ngược lại khát vọng của các dân tộc hướng tới quyền được độc lập, tự do, quyền được sống và quyền mưu cầu hạnh phúc. 

Trong tác phẩm Cậy thế sức mạnh quân sự, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright kịch liệt phê phán chiến lược chính trị - quân sự của Mỹ đã từng dẫn đến cuộc phiêu lưu trong chiến tranh Việt Nam và hiện nay đang thất bại trong nhiều cuộc chiến tranh xâm lược. Theo ông, giới lãnh đạo hiện nay ở Mỹ đã không rút ra được kết luận gì từ những bài học của lịch sử, vì thế chính sách của Mỹ trong mấy thập kỷ qua vẫn dựa vào ưu thế quân sự tuyệt đối và đơn phương sử dụng sức mạnh. Sau Chiến tranh lạnh, Mỹ không còn đối thủ địa - chính trị ngang sức, ngang tài có thể kiềm chế sức mạnh của họ. Trong điều kiện đó, giới lãnh đạo ở Washington theo đuổi tham vọng xây dựng thế giới đơn cực, củng cố vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ. Chiến lược này do chính quyền của Tổng thống Mỹ G.H. Bush (cha) đề xuất và thực thi, được chính quyền của Tổng thống Bill Clinton tiếp tục và được Tổng thống Mỹ G.W. Bush (con) phát triển thêm. Ưu thế quân sự tuyệt đối của Mỹ được sử dụng làm công cụ sức mạnh trong giải quyết các vấn đề quốc tế.

Quyết định phát động cuộc chiến ở Irắc là hành động quan trọng nhất, có tính quyết định số phận đối với chính quyền của Tổng thống Mỹ G.W. Bush, cũng như có ý nghĩa quyết định toàn bộ diễn biến các sự kiện tiếp sau đó. Về thực chất, bắt đầu từ năm 2003, chiến dịch quân sự ở Irắc là ưu tiên chủ yếu trong chính sách của Mỹ. Mỹ cho rằng chiến dịch quân sự ở Irắc sẽ chứng tỏ cho toàn thế giới biết, Mỹ có khả năng dễ dàng và nhanh chóng đánh bại bất kỳ quốc gia nào “không chơi theo luật chơi của Mỹ” và sẽ “dạy” cho những quốc gia nào dám thách thức vị thế lãnh đạo thế giới của Mỹ trong thế kỷ XXI, đồng thời, giải pháp quân sự cho vấn đề Irắc sẽ góp phần gia tăng quyền kiểm soát của Mỹ đối với tài nguyên năng lượng ở khu vực Cận Đông, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để củng cố vị thế hàng đầu của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên trên thực tế, những tính toán sai lầm về chính trị đã dẫn đến việc Mỹ rơi vào tình trạng bị sa lầy. Trong gần bốn năm, đội quân đông tới 140.000 người của Mỹ được sự trợ giúp của 100.000 nhân viên dân sự tuyển dụng theo hợp đồng và 30.000 quân liên minh đa quốc gia đã không thể dùng sức mạnh để ổn định tình hình ở Irắc. Mỹ tổn thất ngày càng lớn, chi phí chiếm đóng vượt gấp nhiều lần so với tính toán của Nhà Trắng.

Chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Bush đã không giành được thắng lợi về chính trị ở Irắc, Mỹ đã không thể tạo dựng được một nền dân chủ theo mô hình của Mỹ ở Irắc và trên toàn bộ khu vực Cận Đông. Rút cuộc, tham vọng đó đã dẫn tới thất bại thảm hại, còn nước Mỹ phải rơi vào “hội chứng Việt Nam thứ hai”.

Hương Ly

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 315.