Trang chủ 60 Năm chiến thắng Điện Biên Phủ Mỹ với vấn đề Điện Biên Phủ

Mỹ với vấn đề Điện Biên Phủ

Thất bại ở Điện Biên Phủ là thất bại thảm hại nhất của thực dân Pháp trong thời kỳ lịch sử hiện đại, dẫn tới việc Pháp chịu mất Đông Dương rồi lần lượt các thuộc địa khác. Song Điện Biên Phủ còn là nỗi đắng cay của Mỹ - kẻ đồng loã, hay "đồng tác giả" của cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương - dẫn tới chỗ Mỹ quyết định dấn sâu hơn, "dốc túi" vào "canh bạc" ở đây, để rồi đến lượt mình, Mỹ lại bị mất tất cả.

Vậy, "vấn đề Điện Biên Phủ" có ý nghĩa gì trong chính sách Mỹ và thái độ của giới cầm quyền Mỹ đối với sự kiện này ra sao?

6

1. Điện Biên Phủ trong sự "đặt cược" của Mỹ ở Đông Dương

Quan hệ Việt - Mỹ đã có cơ hội phát triển tốt đẹp trong thời gian trước, và cả sau năm 1945. Hồ Chí Minh đã nỗ lực theo hướng có lợi cho quan hệ giữa hai nước[1].

Nhưng, nước Mỹ dưới thời Truman, trong cơn hoảng loạn về "nguy cơ cộng sản", đã khước từ thiện chí đó, từng bước đứng về phía Pháp chống lại sự tồn tại và đi lên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đặc biệt các sự kiện, Liên Xô phá vỡ độc quyền hạt nhân của Mỹ (ngày 23-9-1949), những người cộng sản làm chủ toàn bộ lục địa Trung Quốc (cuối năm 1949), hàng loạt nước dân chủ nhân dân ra đời ở cả châu Âu lẫn châu á, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ (ngày 25-6-1950)... được người Mỹ xem như bằng chứng mới về mối "đe dọa của cộng sản". Thuyết đôminô[2] không ngừng được củng cố vững chắc hơn bởi các "chứng cứ", "chứng lý" này.

Ngày 30-12-1949, Tổng thống Truman thông qua Bị vong lục NCS 48/2, do Hội đồng An ninh quốc gia (Mỹ) soạn thảo, trong đó "đường lối chính sách của Mỹ đã được định ra để ngăn chặn sự bành trướng thêm nữa của cộng sản ở châu Á"[3]. Văn kiện này nhấn mạnh "cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề Đông Dương thuộc Pháp"3. Đến đây, "tầm quan trọng của Đông Dương đối với lợi ích an ninh của Mỹ ở Đông Dương được coi là điều khẳng định"4. Cũng từ đây, "thái độ nước đôi của Oasinhtơn chấm dứt một cách rõ rệt"5 - Trong suốt những năm 1950, quyết định trên của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ không hề được phán xét, mà liên tiếp được nhắc lại ngày càng đậm nét hơn.

Bên cạnh chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, hành động can thiệp của Mỹ còn từ những mưu đồ kinh tế: "Đông Dương là một miếng mồi đáng cho chúng ta đánh một canh bạc to... Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, lợi tức hàng năm ở Đông Dương cũng đã lên tới 300 triệu đô la"[4].

Như vậy mất Đông Dương, Mỹ không chỉ mất đi nguồn "nguyên liệu quý, giá rẻ", mà còn mất cả khả năng thế chân Pháp ở thuộc địa béo bở này. Bởi thế, khi Pháp gặp nguy khốn Mỹ phải hành động gấp, bằng mọi giá để cứu Pháp.

Khi đường lối cơ bản đã được xác định thì việc thực hiện diễn ra rất khẩn trương. Ngay sau khi Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Mỹ liền công nhận chính quyền bù nhìn Bảo Đại (ngày 7-2-1950). Ngày 8-5-1950, Mỹ báo tin sẽ viện trợ kinh tế, quân sự cho Pháp ở Đông Dương, đợt đầu là 10 triệu đô la[5].

Pháp càng tỏ ra suy yếu trước đối phương bao nhiêu thì Mỹ càng ra sức "dốc túi" bấy nhiêu. Chi phí chiến tranh mà Mỹ nhận gánh vác tăng lên không ngừng[6] và đạt mức kỷ lục: 1,1 tỉ đô la (78% toàn bộ chi phí của Pháp năm 1954)[7].

Điều gì đã khiến giới tài phiệt, thực dụng như Mỹ, lại chấp nhận ném số tiền lớn như vậy vào cuộc chiến tranh mà Mỹ biết rõ, kẻ được Mỹ chi tiền dễ "vì mệt mỏi mà phải nhượng bộ Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông"[8].

Ta hãy nghe "thổ lộ" của chính Tổng thống Aixenhao ngày 4-8-1953 tại Hội nghị các thống đốc bang ở Xiatơn: "khi chúng ta bỏ phiếu thông qua món tiền 400 triệu đô la để giúp đỡ cuộc chiến tranh này, chẳng phải là chúng ta chuẩn chi cho một chương trình vô giá trị. Chúng ta đã biểu quyết cho một phương pháp rẻ tiền nhất để ngăn chặn các biến cố có thể gây ra cho nước Mỹ những hậu quả khủng khiếp"[9]. "Thành thật" đến như vậy trong việc lợi dụng Pháp, nhưng ý đồ thế chân Pháp vẫn còn được giấu kín.

Lẽ thường: kẻ nào bỏ nhiều tiền, kẻ ấy có quyền đòi hòi. Mỹ rất thông tỏ điều ấy. Nhưng nhân danh người "đi đầu trong việc tổ chức chống cộng", Mỹ còn đòi hỏi được tham gia sâu hơn vào mọi hoạt động chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương. Về chính trị, Mỹ ép Pháp công nhận "nền độc lập" cho các chính phủ bù nhìn. Về quân sự, Mỹ muốn trực tiếp thông qua các kế hoạch quân sự của Pháp đòi quyền xây dựng các quân đội tay sai bản xứ. Tuy có vấp phải phản ứng của một số tướng tá Pháp, từng bước Mỹ đã chi phối được cuộc chiến tranh.

Vốn đã kiệt quệ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc lao sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương khiến nước Pháp lâm vào tình thế cực kỳ bi đát: tài chính trống rỗng, kinh tế trì trệ, chia rẽ xã hội sâu sắc, làn sóng phản chiến lên cao. Trong mọi khó khăn, "vấn đề Đông Dương bao trùm lên tất cả"[10].

Tình hình ấy đòi hỏi nước Pháp phải tìm được lối thoát khỏi chiến tranh, nhưng với chính phủ Pháp, đó phải là "lối thoát vinh dự"3. Theo kiểu thực dân, đó chỉ có thể là một nỗ lực cao nhất, cuối cùng bằng các hành động chiến tranh. Nhưng nước Pháp lúc ấy không thể tiếp tục chiến tranh mà không được bảo trợ mạnh mẽ cả về vật chất lẫn tinh thần. Khả năng trông cậy chỉ có thể là Mỹ, dù Pháp hiểu rằng sẽ phải trả giá, vì "viện trợ của Mỹ thuộc loại chính trị"[11]. Và đúng là Mỹ đã thỏa mãn Pháp, bởi các nhà vạch chính sách Mỹ cho rằng, thất bại của Pháp được xem như sự lùi bước trước cộng sản, do đó sẽ "khuyến khích cộng sản lấn tới"(?!).

Tháng 3-1953, Thủ tướng R. Mayê đến Oasinhtơn để bàn với Mỹ về chiến tranh Đông Dương. Bản thông báo cuối cùng ghi rõ. Mỹ được "theo dõi nghiên cứu các kế hoạch quân sự do Bộ chỉ huy tối cao ở Đông Dương chuẩn bị. Các kế hoạch này cho phép nghiên cứu một cách sâu rộng, nhằm mục đích xác định các phương tiện và cách thức giúp đỡ vật chất, tài chính và ý kiến mà nước Mỹ có thể đóng góp để thực hiện". Như vậy, từ đây, Mỹ có quyền xét duyệt các kế hoạch Nava (tháng 7-1953), mà nội dung chủ yếu là quyết định giành thắng lợi quân sự to lớn, buộc đối phương điều đình ở thế có lợi cho Pháp trong vòng một, hai năm.

Có kế hoạch Nava trong tay và sự đồng tình của Mỹ, Ngoại trưởng Biđôn đã "cao giọng" tuyên bố khi hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ Ph.Đalét, ngày 13-7-1953, tại Oasinhtơn: "Chúng tôi không muốn chấm dứt chiến tranh bằng bất cứ giá nào. Đặc biệt không có sự điều đình trực tiếp với Hồ Chí Minh"[12]. Đầu tháng 8-1953, do coi việc "mất Đông Dương sẽ nguy kịch cho nền an ninh Mỹ", Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đã khẳng định với Pháp "mục đích của Mỹ không có gì khác hơn là một thắng lợi quân sự"[13]. Nghiên cứu kế hoạch Nava, Đalét tin rằng "kế hoạch đó về đại cương dự tính trong vòng 2 năm tới - nếu không phải là một thắng lợi hoàn toàn thì ít nhất cũng là những kết quả quyết định về quân sự"[14]. Niềm tin ấy khiến tân Thủ tướng Lanien phấn khởi thông báo trước Quốc hội: "Kế hoạch Nava chẳng những được Chính phủ Pháp mà cả những người bạn Mỹ tán thành. Nó cho phép hy vọng đủ mọi điều"[15]. Sự tán thưởng không chỉ dừng lại trong các cuộc hội kiến, ở các diễn đàn long trọng, mà còn từ thực tế chiến trường Đông Dương nóng bỏng. Hàng loạt các nhà chiến lược chính trị, quân sự, như các tướng Tơrápnen, Ô. Đanien... thay nhau tới Đông Dương; nhất là chuyến đi của Phó Tổng thống Mỹ R. Níchxơn đến tận Ghềnh (Ninh Bình) tháng 11-1953, để xem xét tính khả thi của "công trình" do H. Nava thiết kế, cũng như để "định vốn" cho "cuộc chơi", đã cho thấy chiến tranh Đông Dương (chủ yếu trên chiến trường Việt Nam) có ý nghĩa thế nào trong chính sách của Mỹ.

Ngay sau khi kế hoạch Nava được cả Pháp lẫn Mỹ chuẩn y, các phương tiện chiến tranh từ Mỹ được ồ ạt đưa tới Việt Nam. Ngày 10-9, Chính phủ Lanien nhận được khoản viện trợ đặc biệt của Mỹ là 385 triệu đôla3... Đồng thời từ đây Mỹ đảm nhiệm luôn việc chi tiền (tới 400 triệu đôla) và huấn luyện quân đội tay sai bản xứ theo kiểu Mỹ.

Diễn biến chiến tranh đã đẩy H. Nava đến chỗ lựa chọn đóng chốt ở Điện Biên Phủ. Từ chỗ bị động giữ vị trí chiến lược này, Nava đã điều chỉnh kế hoạch tập trung xây dựng Điện Biên Phủ thành căn cứ vững chắc, nhằm giành quyền chủ động, tiêu diệt lực lượng chủ yếu của đối phương trong một cuộc chiến tranh quy ước. Điện Biên Phủ từng bước trở thành hạt nhân của kế hoạch Nava và được cả hai phía lựa chọn làm điểm quyết chiến chiến lược. Sau này, nhiều tướng tá Pháp - Mỹ đều coi đó là sai lầm của Nava, nhưng lúc ấy Pari lẫn Oasinhtơn không có ai "phản biện" mưu kế ấy. Ngược lại, Nava chỉ nhận được những lời khen ngợi và thán phục, kể cả của các bậc thầy chiến tranh Mỹ[16].

Xem thế đủ rõ, chiến tranh Đông Dương nói chung, cuộc đụng đầu ở Điện Biên Phủ nói riêng không phải chỉ giữa Pháp với Việt Nam, mả còn là sự "chung vốn" của Mỹ - một sự đặt cược đắt giá (cả sức mạnh lẫn danh dự Mỹ) trong cuộc chiến tranh này.

2. Điện Biên Phủ và chính sách của Mỹ

Do sự "chung vốn" như vậy nên Điện Biên Phủ bị lâm nguy thì cả Pháp lẫn Mỹ đều lo sợ, bởi nó không chỉ liên quan đến thuộc địa, đến căn cứ tiền tiêu chống cộng, mà còn liên quan đến cả thể diện (thực dân) nữa. Vì thế, khi Pháp cầu cứu, hiển nhiên Mỹ phải tìm kế giải thoát cho Pháp, đồng thời bảo vệ số vốn liếng đã hùn vào.

Trong "Bị vong lục về Đông Nam á từ ngày 30-1 đến ngày 5-4-1954", ủy ban đặc biệt Mỹ về mối đe doạ của chủ nghĩa cộng sản đã khẳng định lại: "Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài một thắng lợi quân sự ở Dông Dương", "... Mỹ kiên quyết phản đối mọi giải pháp thương lượng về Đông Dương tại Giơnevơ"[17]. Những tháng đầu năm 1954, nhất là mấy tuần đầu từ lúc Điện Biên Phủ bị tấn công "các giới chính trị và quân sự ở Pháp cũng như ở Anh đều trải qua một cơn sốt đặc biệt"[18]. Các cuộc thảo luận "sôi sục" ở Mỹ đều nhằm khẳng định lợi ích của Mỹ, đồng thời cường điệu hậu quả do thất bại của Pháp gây ra. Nhưng Mỹ vẫn "tự kiềm chế", "tự giới hạn" mục tiêu trước mắt của Mỹ vào mùa xuân 1954 là khuyến khích người Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh và khuyên can họ không trực tiếp thương lượng đình chiến với đối phương - một cuộc đình chiến chỉ có thể dẫn tới "một vụ Munich ở Đông Dương"[19]. Chính báo chí Mỹ cũng không ngần ngại vạch rõ, chính sách của Mỹ đã gây áp lực rất mạnh để người Pháp tiếp tục chiến đấu ỏ Đông Dương. Tổng thống Aixenhao đặc biệt chú trọng tới sự phát triển của tình hình quân sự ở đây. Ông ta ủy nhiệm cho Thứ trưởng Ngoại giao Bêđen Xmít và Thứ trưởng Quốc phòng Rôbớt Kiét, có sự phối hợp của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, nghiên cứu các vấn đề quân sự và chính trị do cuộc chiến tranh này đặt ra cho nước Mỹ[20].

Thực hiện chính sách ấy, hàng ngày gần 100 máy bay vận tải Mỹ DC3 hạ cánh xuống các sân bay nguy hiểm trong lửa đạn súng cối của cộng sản. Ngày 23-3-1945, Tổng thống Aixenhao chỉ thị cho Rátpho (Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân) phải giải quyết cấp tốc các yêu cầu của Nava bằng cách xác định ưu tiên cho tất cả cái gì có thể góp phần vào kết quả của trận đánh tiến hành.

Cùng với việc tăng cường vật chất, Mỹ ra sức "lên dây cót" tinh thần cho binh lính Pháp. Cuối tháng 3-1954 Tổng thống Aixenhao gửi thư động viên quân Pháp "giữ vững tinh thần", đồng thời gợi ý Pháp trao hàm cấp tướng cho Đờ Cátxtơri khi cuộc chiến diễn ra ác liệt nhất.

Như vậy, số phận quân Pháp ở Điện Biên Phủ càng nguy kịch thì Oasinhtơn càng có thêm nhiều phương án giải quyết tình hình. Đặc biệt, nhóm hiếu chiến, mà Đô đốc Rátpho là đại diện, đưa ra kế hoạch Diều hâu (Vautour), chủ trương dùng không quân chiến lược ồ ạt đánh phá lực lượng bao vây Điện Biên Phủ. Đi xa hơn, nhóm này còn yêu cầu sử dụng bom nguyên tử chiến thuật[21]. Phó Tổng thống Níchxơn công khai ủng hộ chủ trương này trước giới báo chí (ngày 16-4-1954) đến mức "nếu phải mạo hiểm gửi quân đội Mỹ sang Đông Dương để ngăn chặn cộng sản chiếm xứ đó thì chính phủ Mỹ buộc lòng phải dùng đến các biện pháp trái với nguyện vọng của nhân dân"[22].

Các kế hoạch can thiệp quân sự của Mỹ để cứu Pháp đã vấp phải sự phản đối của Anh, rồi sau đó chính Quốc hội Mỹ cũng bác bỏ. Do đó, khi Pháp tiếp tục cầu cứu, Tổng thống Aixenhao "quyết định không can thiệp"[23].

Sự thực của vấn đề này như thế nào? Cho đến nay còn chưa được biết đầy đủ về ý định thực sự của Mỹ, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các nhà vạch chính sách Mỹ đã tính toán rất kỹ vấn đề này (mà việc Liên Xô sản xuất thành công bom khinh khí cũng như phản ứng dữ dội của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên... là những điều khiến Mỹ phải "dè chừng"). Đúng như G. Côncô bình luận, mặc dù Đalét nhai đi nhai lại về việc can thiệp bằng không lực, "nhưng cả Đalét và Aixenhao chưa bao giờ ủng hộ việc sử dụng không quân hoặc hải quân, đừng nói gì đến vũ khí hạt nhân", "trên thực tế Mỹ không tán thành cả chiến tranh lẫn hòa bình"[24]. Tuy thế, bên cạnh các kế hoạch "hành động chung" và các nỗ lực lập khối phòng thủ Đông Nam á, Mỹ đã triệt để lợi dụng kế hoạch Rátpho nhằm đe doạ đối phương và trấn an tinh thần Chính phủ Pháp.

Như vậy, chính sách của Mỹ vào thời điểm Điện Biên Phủ lâm nguy là làm rùm beng vấn đề can thiệp ồ ạt để cứu Pháp, song lại không làm gì cả - một thái độ nước đôi, đầy mâu thuẫn. Điều này cũng phản ánh một chính sách đầy mâu thuẫn của Mỹ ở Đông Dương: vừa muốn tiếp tục dùng người Pháp ngăn chặn cộng sản ở Đông Nam á, vừa muốn nhân lúc Pháp suy yếu để thế chân Pháp ở thuộc địa béo bở này. Tính toán này hoàn toàn phù hợp với hành động của Mỹ tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương. Tại đây, Mỹ đã làm hết sức để nước Pháp tránh khỏi tình trạng thương lượng trên thế yếu, mà do đó phải nhân nhượng đối phương. Kết quả của hội nghị phần nào đã đáp ứng được yêu cầu của Mỹ, song Mỹ đã từ chối ký hiệp định nhằm dễ bề hành động theo ý đồ đã định. Có thể nói, lúc Điện Biên Phủ thất thủ cũng là lúc Mỹ ráo riết hành động để sửa soạn thay thế Pháp ở vị trí tiền đồn chống cộng này.

3. Điện Biên Phủ - nỗi ám ảnh khủng khiếp và dai dẳng của Mỹ

Mặc dù vào phút chót Mỹ - không hành động gì để cứu Pháp nhưng thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ đã khiến Mỹ choáng váng. Ngày 8-5-1954, Tổng thống Aixenhao đã triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia bàn khẩn cấp về tình hình Đông Nam á và Đông Dương. Cùng ngày, Thượng sĩ Conaolen, lãnh tụ phe đa số Đảng Cộng hòa hốt hoảng phát biểu trước Quốc hội Mỹ: "Tôi mong rằng thế giới tự do hãy coi việc thất thủ pháo đài Điện Biên Phủ của Pháp như một tiền đề cho việc mất cả Đông Nam á. Không nên quên rằng cần phải gấp rút tổ chức một hệ thống phòng thủ ở Đông Nam Á"[25].

Bị ám ảnh nặng nề về một hậu quả tồi tệ do thất bại ở Điện Biên Phủ gây ra, Mỹ đã thi hành một chính sách nhằm "trì hoãn sự tiến tới của cộng sản". Trong bối cảnh lúc ấy, "điều mà họ rõ ràng tán thành là gây nên những hồ nghi và lo sợ về một phiêu lưu Mỹ có thể có, bởi vì ngay dù cho Mỹ tự thấy không đủ sức hành động về mặt chính trị cũng như quân sự nhưng nếu Mỹ làm ra vẻ càng nguy hiểm bao nhiêu thì càng thực hiện được mục tiêu của mình bấy nhiêu"[26]. Việc không ngớt tuyên bố (cả bí mật lẫn công khai) về việc dùng bom nguyên tử, việc hô hào đồng minh cùng "hành động chung", cũng như đẩy mạnh lập khối phòng thủ Đông Nam á, đe dọa "quốc tế hóa" tình hình Đông Dương... chính là "con ngáo ộp" phục vụ mưu đồ chính trị ấy. Bức điện Ngoại trưởng Đalét gửi cho các vị đại sứ Mỹ ngày 7-7-1954 nêu rõ: "Chắc chắn là tổng tuyển cử thì cuối cùng có nghĩa là thống nhất nước Việt Nam dưới quyền ông Hồ Chí Minh, do đó điều quan trọng hơn hết là trì hoãn càng lâu càng tốt cuộc tuyển cử sau khi có hiệp định ngừng bắn[27]. Hiệp định Giơnevơ với một số điểm cơ bản đối với Mỹ như: chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17, tổng tuyển cử sau hai năm ký hiệp định... là điều Mỹ có thể chấp nhận. Với kết quả này, "Mỹ tin là đã đạt được một thời gian nghỉ ngơi quý giá và một cách giải quyết tốt nhất có thể có..."[28]. Như thế, mặc dù đã hoàn toàn kiệt sức, Pháp vẫn còn phải bám giữ thêm một thời gian nữa, khi Mỹ chưa sẵn sàng các điều kiện để tiếp quản trận địa này.

Mặc dù cố sức kháng cự lại sự lấn át của Mỹ trong vòng một, hai năm sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, về cơ bản Pháp đã tỏ rõ sự bất lực trước tình hình phức tạp ở Đông Dương. Đây cũng chính là khoảng thời gian Mỹ lấn dần và hất cẳng Pháp, tổ chức một phòng tuyến chống cộng mới ở Đông Nam á bằng một chính quyền tay sai bản xứ do Mỹ lựa chọn, nuôi dưỡng chu đáo. Mỹ hy vọng bằng biện pháp mới này - thực dân trá hình - việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản đạt hiệu quả hơn. Nhưng Mỹ không ngờ rằng, Điện Biên Phủ ở Việt Nam vừa kết thúc đã làm bùng lên một "Điện Biên Phủ" ở Angiêni, rồi tiếp đến các thuộc địa khác của Pháp. Đồng thời từ những năm 1959 - 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam dâng lên mạnh mẽ. Chính lúc này, nỗi ám ảnh Điện Biên Phủ lại xuất hiện, khiến Mỹ phải thay đổi chiến lược chiến tranh, đưa một bộ phận hạn chế quân Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam, nhằm dập tắt ngọn cờ đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc, uy hiếp tinh thần các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Sự phát triển của chiến tranh đã làm Mỹ "tuột mặt nạ" thực dân mới, Giônxơn đã quyết định phải đưa quân viễn chinh Mỹ ồ ạt vào tham chiến ở Việt Nam để "chấm dứt cơn ác mộng này (chiến tranh Việt Nam) trước, mới có thể thực hiện được ước mơ (xã hội vĩ đại) của mình". Khi quân đội nhân dân Việt Nam mở cuộc tấn công vào căn cứ Khe Sanh (Quảng Trị), trước khi Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân bắt đầu, cơn ác mộng Điện Biên Phủ lại "hành hạ" chính quyền Mỹ. Điều đó trước hết ám ảnh viên Tổng tư lệnh chiến trường W.C. Oétmolen. Ngay lần đầu tiên thị sát Khe Sanh, Oétmolen đã lập tức liên hệ nó với căn cứ Điện Biên Phủ trên tất cả các mặt. Sau đó, Khe Sanh đã không ngớt gây xôn xao ở Mỹ. Trận đánh quan trọng đến mức Tổng thống Giônxơn có hẳn một phòng sa bàn về Khe Sanh và thường xuyên nhận tin tức từ đó[29]. Cũng giống như tình hình ở Pháp lúc xảy ra trận Điện Biên Phủ, tin tức từ Khe Sanh đã chiếm 25% trên vô tuyến truyền hình Mỹ, chiếm 50% chương trình của hãng CBS, 35% tin của hãng AP[30], "bản tin lúc 6 giờ đã trở thành cuộc chiến trong phòng khách mỗi gia đình Mỹ"3, và "Khe Sanh trở thành trận đánh được bàn cãi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này. Cố thủ hay rút lui? Người ta tranh luận nghiêm chỉnh cả chiến lược quân sự của Mỹ ở Việt Nam"4. Nỗi khiếp sợ về một "Điện Biên Phủ" mới đã khiến Tổng thống Giônxơn tức giận thét lên: "Tôi không muốn có bất kỳ một Điện Biên Phủ đáng nguyền rủa nào"5 và bắt cả Tổng tư lệnh Oétmolen lẫn chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Uylơ lập văn kiện "được ký bằng máu" cam kết rằng Khe Sanh sẽ không sụp đổ.

Lo sợ về việc mất Khe Sanh và thảm họa do nó gây ra, Oétmolen đã phải tính đến khả năng mạo hiểm để đảm bảo lời thề trước Tổng thống Giônxơn: "Có một khả năng khác ở Khe Sanh: vũ khí hạt nhân chiến thuật... nếu các quan chức Oasinhtơn có ý định gửi thông điệp cho Hà Nội, chắc chắn là những vũ khí hạt nhân chiến thuật nhỏ sẽ là cách để nói với Hà Nội điều đó, giống như hai quả bom nguyên tử đã nói một cách thuyết phục với các quan chức Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai... Tôi cảm thấy lúc này... mà không xem xét khả năng lựa chọn đó là một sai lầm"6.

Như vậy, mặt dù đã rút được nhiều bài học xương máu từ Điện Biên Phủ và hết sức cảnh giác, mùa xuân năm 1968, đế quốc Mỹ lại rơi vào "cạm bẫy" của quân đội Cụ Hồ. Thòng lọng lần này không phải tại thung lũng Khe Sanh mà ở tất cả các đô thị miền Nam, trong một thế trận chiến tranh nhân dân kỳ diệu. Trên ý nghĩa ấy có thể coi đòn Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 là một trận Điện Biên Phủ đối với Mỹ. Từ đây, cũng giống như Pháp, nước Mỹ lâm vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan" rồi cuối cùng quyết định rút khỏi chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên Mỹ vẫn còn hết sức ngoan cố. Vì vậy, phải thêm một đòn "Điện Biên Phủ trên không", tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng nữa, Mỹ mới bỏ cuộc. Đó là cơ hội để quân và dân Việt Nam tiến lên giành thắng lợi trọn vẹn giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc 30 năm can thiệp và trực tiếp tiến hành chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương.


Tiến sĩ Đặng Dũng Chí

Trích trong cuốn Điện Biên Phủ - Trận thắng thế kỷ,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 4-2014.

 



[1]. Ngoài những tiếp xúc trực tiếp với các phái đoàn Mỹ, từ tháng 10-1945 đến tháng 2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ít nhất 8 bức thư cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, chính thức kêu gọi Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Cho đến khi nghiên cứu Tài liệu mật Lầu Năm Góc, người ta chưa tìm được văn bản nào cho thấy phía Mỹ trả lời các thư đó (Xem: Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, 1971, t.1, tr.22).

[2]. Theo Gabrien Côncô, năm 1947, Học thuyết đôminô xuất hiện đầu tiên dưới hình thức chủ nghĩa Truman về Hy Lạp (Xem: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, t.1, tr.95).

[3], 3, 4, 5. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd, tr.21-24.

[4]. Thời báo Niu Yoóc, ngày 12-2-1950, trích theo Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr.236-237.

[5]. Xem: Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd.

[6]. Còn có nhiều cách tính khác. Có thể xem: G. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.38 hay Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr.427.

[7]. Xem: Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd, tr.24.

[8]. Xem Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5-1994, tr.55.

[9]. Trích theo Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Sđd, tr.241.

[10]. Lanien: Thảm trạng Đông Dương, trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb. Sử học, 1963, tr.7-8.

3. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Bản dịch của Cục Nghiên cứu khoa học, t.1, tr.10.

[11]. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Bản dịch của Cục Nghiên cứu khoa học, t.1, tr.10.

[12]. Trích theo Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Sđd, tr.61-63.

[13]. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd.

[14], 3. Trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.20.

[15]. Trích theo Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Sđd, tr.61-63.

[16]. Trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.20.

[17]. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd.

[18]. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơnevơ 1954), Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981, tr.122.

[19]. Báo cáo của Tiểu ban đối ngoại Quốc hội ngày 30-3-1954, trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.19.

[20]. Báo Nhân đạo, ngày 8-2-1954, trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.25.

[21]. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơnevơ 1954), Sđd, tr.124, 130-131; Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.19; Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd, tr. 54-55.

[22]. Trích theo Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.80.

[23]. A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1996, tr.45.

[24]. G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr.106.

[25]. Báo Dân chủ, ngày 11-5-1954, trích theo Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Sđd, tr.337.

[26]. G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd.

[27]. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Sđd, tr.55-56.

[28]. G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd.

[29]. Neil Sheeham: Sự lừa dối hào nhoáng..., Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.410.

[30], 3, 4. Maicơn Mắclia: Việt Nam - cuộc chiến tranh 10 nghìn ngày, Sđd, tr. 148, 149.

5. Maicơn Mắclia: Việt Nam - cuộc chiến tranh 10 nghìn ngày, Sđd; G.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd.

6. G. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr.218.