Trang chủ 60 Năm chiến thắng Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ - qua sách báo nước ngoài

Điện Biên Phủ - qua sách báo nước ngoài

- Thứ 6 ngày 24-7-1953, tại Pari, Ủy ban quốc phòng họp.

Ủy ban gồm: Tổng thống, Thủ tướng, các bộ trưởng: Bộ Ngoại giao, Tài chính, Nội vụ, Quốc phòng, Hải ngoại, các bộ trưởng phụ trách các quốc gia liên hiệp, các lực lượng vũ trang (chiến tranh hải quân, không quân), thống chế Gioăng (Juin) và ba tham mưu trưởng, tướng Bờlăng (Chiến tranh), Đô đốc Nômi (Hải quân) và tướng Phay (Fay) (Không quân). Đề án về chiến lược những con nhím bị gạt ra ngoài. Người ta nêu vấn đề: nếu Luông Phabăng thất thủ, như trước đây đã sắp xảy ra, thì tình hình sẽ ra sao.

Thống chế Gioăng, phát ngôn của các tham mưu trưởng nhấn mạnh rằng, việc phòng thủ Lào chỉ giao đơn thuần cho Bộ trưởng Ngoại giao với nhiệm vụ, bằng những văn bản sao nguyên văn, yêu cầu Mỹ và Anh bảo đảm sự bất khả xâm phạm lãnh thổ, đồng thời lưu ý Nga Xô và Trung Quốc về một cuộc xung đột quốc tế mà sự xâm lược nước này có thể xảy ra.

24

... Ngay khi bước vào phiên họp, ông Etgapho, Bộ trưởng Tài chính đã nói rõ và tóm tắt lại là việc thực hiện kế hoạch Nava tốn ít nhất 100 tỷ. Ông A.M.P.H. Tetgien (Teiger) ngạc nhiên rằng người ta chờ nước Pháp có một cố gắng chi thêm 100 tỷ cho Đông Dương mà lại không thể bảo đảm phòng giữ được Lào. Ông Lanien cãi lại: “Hiện tại, chỉ cần bảo vệ lấy đội quân viễn chinh thôi”.

Một cách thiết thực, ông Pôn Râynô, Phó Chủ tịch ủy ban phụ trách các vấn đề Đông Dương, hỏi tướng Nava những sự tăng viện mà ông đòi hỏi có thể giúp cho ông đánh bại kẻ thù vào thời gian giữa tháng 10-1953 và tháng giêng năm 1955 không? Nava trả lời là ông ta đã nghĩ như vậy, và kẻ thù đã bị khốn đốn (nguyên văn: bị nặng nề) và các hậu phương của họ bị nghiền nát, như ông nói: chúng đã yếu đi...".

(Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Nxb. Juliard, Pari, 1963, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
xuất bản, 1994, tr. 21-22).

 

- "... Cuối tháng 7-1953, đường lối quân sự của Pháp đã được xác định trong một văn kiện được gọi là "Kế hoạch Nava"...

Trên những nét lớn, nhiệm vụ đó có thể tóm tắt
như sau:

1. Giữ thế phòng ngự trong chiến cuộc 1953 - 1954. Tránh giao chiến với chủ lực của Việt Minh trong thời kỳ này. Bảo đảm an toàn và tăng cường sức mạnh cho quân đội viễn chinh để chuẩn bị cho chiến cuộc 1954 - 1955.

2. Chuẩn bị để có thể chuyển sang thế tiến công trong chiến cuộc 1954 - 1955, gây cho chủ lực Việt Minh những thất bại quân sự có thể buộc họ phải đi đến thương lượng hòa giải..."

(Lanien: Tấn thảm kịch Đông Dương,
Nxb. Plông (Plon), Pari, 1951, tr. 13-18)

 

- "I- Thắng lợi của chiến dịch "Cátxtô" cho phép ta hoàn thành việc chiếm đóng Điện Biên Phủ và xây dựng ở đấy một căn cứ lục - không quân mà tầm quan trọng đã nêu rõ ở các Chỉ thị số 856/0-3/TS ngày 2-11 và số 886/3/TS ngày 14-11. Theo nguồn tin có giá trị, thì Bộ tư lệnh tối cao Việt Minh hy vọng chiếm lại xứ Thái và đang chuẩn bị đưa vào Tây Bắc những lực lượng quan trọng.

Ngay bây giờ, một sư đoàn đã sẵn sàng để tấn công Lai Châu, Điện Biên Phủ.

Khoảng cuối tháng Chạp, "đơn vị lớn" đó có thể được tăng cường thêm nhiều đơn vị của quân chủ lực Việt Minh.

II- Để đối phó với âm mưu đó, tôi đã quyết định tiếp nhận chiến đấu ở Tây Bắc trong những điều kiện chung như sau:

1. Chiến đấu bảo vệ Tây Bắc sẽ xoay quanh căn cứ lục - không quân Điện Biên Phủ mà phải được bảo vệ bằng bất cứ giá nào.

2. Việc chiếm đóng Lai Châu sẽ duy trì đến mức độ mà phương tiện hiện có có thể bảo đảm phòng ngự được mà không bị tổn thất. Trong tình huống bị uy hiếp nặng thì các đơn vị của lực lượng lục quân Viễn Đông (FTEO) đóng ở khu tác chiến Tây Bắc (gồm Tabo, đơn vị Phi châu, tham mưu khu Tây Bắc) sẽ rút về Điện Biên Phủ bằng đường bộ, hoặc đường hàng không và việc bảo vệ xứ Thái trắng sẽ giao cho những đơn vị hỗ trợ, cho tiểu đoàn Việt Nam 301 (30e BVN) và cho đơn vị Thái trắng hoạt động dưới hình thức thổ phỉ.

Quyết định rút lui những đơn vị kể trên khỏi Lai Châu đến khi quân ta rút lui vào tới Lào, Mường Khoa sẽ duy trì đến mức tối đa...

III- Về Chiến trường Tây Bắc xa xôi và Việt Minh gặp nhiều khó khăn về hậu cần nên cuộc chiến đấu có thể diễn biến như sau:

- Một giai đoạn vận chuyển gồm có sự vận động của những đơn vị Việt Minh và sự chuẩn bị chuyển vận hậu cần của họ lên Tây Bắc, thời gian vận chuyển có thể là nhiều tuần.

- Một giai đoạn tiếp cận và trinh sát trong đó có những phân đội trinh sát sẽ cố gắng xác định điểm mạnh và yếu của hệ thống phòng ngự của ta và các đơn vị chiến đấu sẽ tiến hành bố trí lực lượng. Giai đoạn này khoảng từ sáu đến mười ngày.

- Một giai đoạn tấn công kéo dài trong nhiều ngày (tuỳ theo lực lượng sử dụng) và nó sẽ kết thúc bằng sự thất bại của cuộc tấn công của Việt Minh".

(Giuyn Roa: Sđd, tr. 422-423)

 

- "... Tướng Nava đặt một kế hoạch gồm bốn điểm chính:

Thứ nhất: những tiểu đoàn lấy ra của hệ thống chiếm đóng và kiểm soát đã tập trung thành binh đoàn cơ động, mặc dù việc tập trung đó có gây ra tình thế mỏng yếu của những khu trong đồng bằng.

Thứ hai: binh lực cơ động được tăng cường bởi những đơn vị Việt - Pháp, bây giờ dùng để chiến đấu nhằm phá vỡ thế ổn định của địch. Đó là thượng sách trong mùa đông này và nếu chiến thuật đó có thể ngăn không cho địch giành được những thắng lợi quan trọng ở từng địa phương thì có thể còn hay hơn.

Thứ ba: nhiệm vụ bình định sẽ trao dần cho quân đội “quốc gia" tuỳ theo sự phát triển của nó về quân số và kinh nghiệm chiến đấu. Làm như vậy là tăng cường thêm lực lượng tấn công chính là các phân đội chuyên nghiệp Pháp và các đơn vị tinh nhuệ nhất của các "quốc gia".

Thứ tư: trong vòng một năm, chúng ta sẽ xây dựng được một lực lượng chiến đấu quan trọng, nó cho phép dự tính đến những hoạt động quy mô như tấn công vùng nhiều ruộng đất còn ở trong tay địch, trong các vùng Thanh Hóa, Vinh, ngoài vùng đồng bằng. Những hoạt động đó, buộc địch phải tung đại bộ phận chủ lực ra đối phó. Bằng cách tiêu diệt các sư đoàn chủ lực và tất nhiên không còn gì có thể ngăn trở những cuộc càn quét từng địa phương nữa và như thế, chiến tranh coi như đã thắng lợi ba phần tư rồi".

(Báo Lơ Phigarô, ngày 1-12-1953)

 

- “... Năm nay, 1953, trước khi chiến dịch mở màn... tôi báo các người phải ra tay trước, phải hoạt động hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận. Khẩu hiệu là giành quyền chủ động!

Quyền chủ động, chúng ta phải chinh phục nó, phải giành giật ở Việt Minh trên mọi địa hạt. Giành được nó rồi, còn phải giữ vững lấy nó nữa...

... ở cấp bậc tôi, tôi sẽ nắm quyền chủ động bằng cách ném ra những cuộc hành binh điều động tất cả các lực lượng dự bị ở địa phương, theo nguyên tắc mau lẹ và kịp thời.

... ở cấp bậc dưới, bất kỳ lúc nào các người cũng phải hành động liên tục không ngừng, hình thức phải linh hoạt, luôn luôn thay đổi, có tính tấn công. Cho đến khi Việt Minh cảm thấy thật sự bị săn đuổi, khi các người đã kích đối phương bằng vận động di chuyển hơn là bằng hỏa lực pháo binh, lúc đó các người mới nắm được chủ động.

Nắm được quyền chủ động tương đối dễ, nhưng muốn giữ vững được nó thì phải luôn luôn cố gắng vì đối phương sẽ huy động mọi phương tiện của họ để giành giật lại.

Sang thời kỳ thứ hai, nghĩa là suốt cả mùa khô 1953 - 1954, sẽ mở những chiến dịch to lớn, hoặc nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của địch dự kiến có thể xảy ra vào quãng tháng 10, tháng 11, hoặc nhằm đánh chiếm những vùng đất đai của Việt Minh nằm ở phía Nam đèo Ngang. Bản thân thời kỳ này lại chia ra làm hai giai đoạn:

Trong giai đoạn thứ nhất (Thu Đông 1953 - 1954) chúng ta phải:

- Một mặt bắt đầu từ nửa tháng 9 trở đi, tập trung vận chuyển lớn ở Bắc Bộ nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của địch và để có thể, tuỳ theo thái độ của Việt Minh, chiến đấu hoặc trong đồng bằng hoặc ở ngoài tuyến.

- Mặt khác, phải phòng bị ở miền Trung Đông Dương và nhất là phải phòng bị chống mọi hoạt động của các lực lượng Việt Minh ở Liên khu 5, thọc qua Tây Nguyên, đánh về hướng sông Mê Kông (Hạ Lào và Campuchia).

Sang giai đoạn thứ hai (Xuân Hè 1954) chúng ta phải cố gắng như kế hoạch đã dự định, thanh toán lực lượng Việt Minh ở phía Nam vĩ tuyến 18, nơi mà chiến dịch có thể kéo dài đến tháng 9, vì điều kiện thời tiết.

Đặc biệt chúng ta cần phải cố gắng:

- Đánh chiếm Liên khu 5.

- Chiếm lấy vùng bên kia sông Bátsắc (Nam Việt Nam).

- Tảo thanh lần cuối cùng phía Bắc của miền Trung Việt Nam".

(Nava: Thư kêu gọi binh sĩ, ngày 20-9-1953)

 

- "... Từ ngày bắt đầu cuộc chiến tranh với Việt Minh, chưa bao giờ, đúng là chưa hề bao giờ, các lực lượng của ta lại vấp phải một lực lượng địch tập trung đông đảo với tầm quan trọng như ở Điện Biên Phủ. Từ trước tới nay, vẫn luôn luôn là một kiểu chiến tranh mòn mỏi của du kích, một kiểu chiến tranh du kích liên tục phá hoại lực lượng và tinh thần của quân đội chính quy, bất chấp năng lực và sức mạnh chiến đấu của quân đội chính quy đó như thế nào. Đó là một chuỗi liên tiếp những hoạt động tập kích vào các đồn lẻ và phục kích những đơn vị đang hành quân của chúng ta. Đó là những cái gai, những cái kim đâm vào chúng ta, và khi chúng ta quay lại, nắm chặt quả đấm sẵn sàng chọi nhau với địch thì lại chẳng thấy một tên địch nào nữa. ít có đội quân nào chịu đựng được cái kiểu chiến tranh đó. Một bên là một đội quân chính quy, một bên là đám lính du kích, những du kích trang bị kém cỏi nhưng vô hình, tài biến hóa, vừa là kẻ thù của chúng ta, song ngay sau đó đã trở thành người nông dân hiền lành khom lưng trên luống cày. Không gian thuộc về họ, địa hình thuộc về họ, khí hậu gay gắt cũng thuộc về họ.

Tuy nhiên, theo thời gian, các lực lượng quân sự của Việt Minh đã tập hợp lại và người ta biết chắc rằng nhiều sư đoàn chủ lực của Việt Minh đã được tổ chức và ngày một ngày hai những sư đoàn này sẽ tham chiến.

Với tất cả những nguyên nhân chiến lược kể trên, cần phải thêm một ý định rất chính đáng của Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp là muốn giăng một cái bẫy nhử quân địch vào. Cái bẫy đó phải được chuẩn bị chu đáo tới mức quân Việt Minh nhảy vào là sẽ bị đánh gãy răng, sẽ gặp một sự kháng cự không lường được, một hỏa lực mạnh và một nghị lực chiến đấu không lường trước được...

Cái bẫy đó là Điện Biên Phủ...

(Luy Xiêng Boócne:
Điện Biên Phủ thành trì vinh quang)

 

- "... Để củng cố được vững chắc hơn nữa và bảo vệ hiệu quả vùng Thượng Lào, chúng tôi đã dự kiến, trong mùa hè, sau khi đã rút khỏi Nà Sản, tiến hành một chiến dịch nhằm mục đích kiểm soát lại vùng Điện Biên Phủ là một vùng có tầm quan trọng bậc nhất về chiến lược. Nhưng do thiếu binh lực nên chúng tôi phải hoãn lại...

... Tôi quyết định gấp rút tiến hành chiến dịch đã dự định, chiếm lấy Điện Biên Phủ để ngăn chặn quân đoàn tác chiến của địch tại đây".

(Hăngri Nava: Đông Dương hấp hối,
Nxb. PLông, Pari, 1956, tr. 169)

 

- “... Xét về phương diện chiến thuật thì những điều kiện phòng ngự, Điện Biên Phủ cũng tương tự như những điều kiện của tất cả các tập đoàn cứ điểm được thiết lập ở vùng rừng núi xung quanh một sân bay. Trận địa sẽ nằm trong lòng chảo. Không thể nào khác được bởi vì chúng ta còn chưa tìm được cách xây dựng những sân bay trên những đỉnh núi cao...

... Các đỉnh núi cao khống chế đồng bằng Điện Biên Phủ ở cách sân bay, nơi mà xung quanh sẽ thiết lập tập đoàn cứ điểm, từ 10 đến 12 kilômét. Cự ly đó lớn hơn tầm bắn có hiệu quả của pháo binh địch, nếu chúng bắn phá bất ngờ. Và pháo binh địch chỉ có thể chiếm lĩnh trận địa ở những sườn núi trông xuống lòng chảo. Pháo phòng không nếu muốn phong tỏa không phận trên sân bay thì cũng phải bố trí như vậy. Theo ý kiến của tất cả các nhà pháo binh, điều đó không thể làm được, vì những khẩu đội pháo đó sẽ bị các đài quan sát đặt trong lòng chảo phát hiện hoặc trong lúc chúng đang chiếm lĩnh trận địa, hoặc khi chúng phát hỏa. Chúng sẽ bị bịt "mồm" ngay bởi pháo binh của ta phản pháo và không quân ta oanh tạc...".

"... Thung lũng Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng nhất của toàn bộ vùng thượng du Bắc Bộ. Đáy thung lũng Điện Biên Phủ là một dải đồng bằng dài 16 kilômét, ngang 9 kilômét bằng phẳng và trống trải, do đó sử dụng thiết giáp thì rất thuận lợi...".

"... Nếu khoảng cách xa bất lợi đối với chúng ta về mặt không quân thì về mặt hậu cần mà nói tất nhiên nó cũng sẽ bất lợi cho Việt Minh. Điện Biên Phủ cách đồng bằng 200 kilômét và cách biên giới Trung Quốc hơn 300 kilômét. Đường nối liền đến biên giới này thì không có hoặc trước kia đã bị phá hoại. Vì vậy, muốn tấn công Điện Biên Phủ, quân đoàn tác chiến của Việt Minh chỉ có thể được tiếp tế bằng những đoàn dân công. Do dó chúng chỉ có thể phát huy uy lực một cách hạn chế...".

(Hăngri Nava: Sđd, tr. 194-195)

 

- " Một dân công mang được tối đa là 22 kilôgam, mỗi ngày đi được 20 kilômét và ăn hết một kilôgam. Vì họ phải vừa đi, vừa về, người ta có thể dự tính rằng, người dân công đó phải ăn hai kilôgam gạo trong 20 kilômét. Muốn đi 180 kilômét thì ăn hết 18 kilôgam. Do đó, số gạo mang để tiếp tế thực tế chỉ còn có bốn kilôgam".

(Giuyn Roa: Sđd, tr. 378)

 

- "... Kế hoạch của Nava làm cho Điện Biên Phủ trở thành một cái "máy nghiền" quân đoàn tác chiến của Việt Minh".

(Mác Cơlô, báo Thế giới ngày 11-5-1954)

 

"... Ngay từ ngày 3-12, quân số của tập đoàn cứ điểm được xác định là chín tiểu đoàn với hai cụm pháo binh. Sau đó, theo những đề nghị liên tục của tướng Cônhi, quân số đó tăng lên đến 10, rồi 11 và cuối cùng lên 12 tiểu đoàn, một đại đội chiến xa gồm 10 xe tăng M.24, hai cụm pháo 105 ly, một đại đội pháo 155 ly (chủ yếu dùng để phản pháo) và bốn đại đội súng cối 120 ly.

Có sáu máy bay khu trục và quan sát được sử dụng ở sân bay.

Ngày 13-3, binh lính đồn trú có đủ tất cả những phần lương thực tiếp tế đã dự định: chín ngày ăn, tám ngày étxăng, sáu cơ số đạn cho từng tiểu đoàn bộ binh, sáu cơ số rưỡi đạn cho 105, bảy cơ số đạn cho 155, tám cơ số đạn cho 120, chín cơ số cho 75 (của xe tăng M.24).

Ngoài ra, 3.000 tấn dây thép gai đã được mang ra bố trí (như thế là một tiểu đoàn có gấp ba lần số dây thép gai so với mức trang bị trung bình) cùng một số lớn khí tài đặc biệt như: súng phun lửa, mìn đĩa, mìn thường, napan chôn dưới đất phương tiện chống đạn khói, máy hồng ngoại, v.v..

Theo tướng Cônhi, mức cấp dưỡng trong trường hợp bị tấn công sẽ là 70 tấn một ngày chiến đấu trung bình và 96 tấn một ngày chiến đấu ác liệt.

Mức độ vận chuyển khối lượng đó là mức cố gắng hết sức bình thường của không quân. Những phương tiện cần thiết để vận chuyển bằng đường không đã được đặt dưới quyền sử dụng của các Bộ Tham mưu Hà Nội...".

(Hăngri Nava: Sđd, tr.213-216)

 

- "... Tối 13 rạng 14, địch tấn công bằng sức mạnh vào Bêatơrixơ và Gabrien.

Gabrien giữ vững được, nhưng Bêatơrixơ đã mất sau mấy giờ chiến đấu. Khu trung tâm đề kháng này được tổ chức rất kiên cố và có một tiểu đoàn lê dương thiện chiến (Tiểu đoàn 3, Bán lữ đoàn lê dương thứ 13) chiếm giữ, sở dĩ bị lọt vào tay địch nhanh như thế, chủ yếu là vì viên chỉ huy tiểu đoàn này, người phó của ông ta và viên chỉ huy khu phòng ngự mà ông ta thuộc quyền, cả ba đều đã bị chết vì phi pháo địch bắn chuẩn bị, đạn pháo đã lọt vào lỗ châu mai quan sát, rơi đúng vào hầm ẩn nấp của họ. Do đó, trong việc chỉ huy đã xảy ra tình trạng dao động không sao tránh khỏi được. Việc phòng ngự không được điều khiển nữa, những yêu cầu về pháo binh chi viện phát hiện không được chính xác và nhất là quân ta không chịu phản kích.

Tối hôm sau (tối 14 rạng ngày 15) đến lượt Gabrien (do Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn xạ kích Angiêri thứ 7 phòng ngự bị tấn công mãnh liệt vào lúc 20 giờ. Đến 22 giờ, các cuộc công kích phải dừng hẳn lại vì hỏa lực pháo binh ta cùng hỏa lực khác phối hợp chặt chẽ chống lại. Những viên tiểu đoàn trưởng đã chỉnh đốn lại cách bố trí và ném phần lớn đội dự bị của mình vào đó. Địch huy động thêm lực lượng tiếp tục tấn công vào lúc 2 giờ 30 phút, chiếm lĩnh được phía Tây - Bắc của Gabrien. Đến 4 giờ 30 phút, viên tiểu đoàn trưởng và người phó của ông ta bị thương nặng. Do đó, cũng như Bêatơrixơ hôm trước, phòng ngự đã mất sự chỉ huy và quân địch tràn vào trận địa. Nhưng quân ta vốn còn chừng một đại đội rưỡi vẫn giữ chặt bộ phận phía Nam của trung tâm đề kháng...

Việc để mất hai trung tâm đề kháng ngoại vi đã mang lại tai hại nghiêm trọng cho chúng ta. Mặt án ngữ phía Bắc và Đông - Bắc đã bị mất và địch sẽ có thể đưa pháo binh và cao xạ pháo của chúng đến gần trận địa hơn.

Ta đã bị thiệt hại nặng và đã sử dụng một khối lượng rất lớn đạn dược. Các kho dự trữ của ta giảm sút xuống rất nhiều và cần phải có thời gian mới bổ sung đầy đủ trở lại được...".

(Hăngri Nava: Sđd, tr. 221-222)

 

- “... Sự thất thủ của vị trí Gabrien đã kết án tử hình đường lên xuống sân bay của các máy bay Đacôta, là sợi dây liên tục thực tế duy nhất của cứ điểm cố thủ với bên ngoài và đồng thời cũng kết án tử hình luôn cả các cứ điểm ở Điện Biên Phủ nữa..."

(Báo Lơ Phigarô, ngày 5-6-1954)

 

- "... Tướng Nava đợi tôi trực tiếp thương lượng với Lầu Năm góc ngay từ khi mới đến Mỹ để xin viện trợ về máy bay và để nhảy dù vì những nhu cầu đó trở nên cấp bách từ khi vòng lửa bao vây Điện Biên Phủ thắt chặt lại.

Ngày 19 tháng 3 tôi đáp máy bay đi Niuoóc...

Những điện sau cùng của tướng Nava cho hay là sau khi mất hai cứ điểm quan trọng (tức Him Lam và Độc Lập) một cách bất ngờ thì Bộ chỉ huy Điện Biên Phủ và Bộ chỉ huy Hà Nội và Sài Gòn phải suy nghĩ để đối phó với tình hình".

(Pôn Ely: Đông Dương bão táp,
Báo Lơphigarô, ngày 5-3-1954)

 

- "... Đến giữa tháng 4, Mỹ đã viện trợ cho Pháp: 75 chiếc máy bay B.26, 25 máy bay Coocxe (Corsair), 20 máy bay Đacôta, một số máy bay Hencát và C54; cho Pháp mượn 49 máy bay C.119; cho các phi cơ C.119, C.54 chở gấp những bao gai, dù và 2.000 áo thiết giáp từ Nhật và Philíppin đến Sài Gòn.

Cho Sư đoàn vận tải thứ 322 của Mỹ ở châu Âu dùng những phi cơ "bá chủ hoàn cầu" (Globimaster) chở quân dù Pháp (Tiểu đoàn biệt kích nhảy dù số 7) sang Đông Dương".

(Đài AFP, ngày 28-4-1954)

 

- "... Nhà bình luận báo Mỹ "National Broadcasting Company" Alếch Đơrâya (Alex Dreir) chiều qua đã đưa ra bản kết quả điều tra dư luận người Mỹ về vấn đề Mỹ can thiệp vào Đông Dương. Trả lời câu hỏi: "Anh, chị người đang đi đường, có muốn nước Mỹ mang quân đội can thiệp vào Đông Dương không?". Có 40.600 người trả lời thì 55,7% phản đối sự can thiệp bằng quân đội, nhưng tán thành viện trợ vật chất, trong tỉ lệ đó thì 46,4% kiên quyết chống lại sự can thiệp trực tiếp, 33,6% tán thành can thiệp, 5% chờ thời (attentiste), 5% không có ý kiến".

(Báo Thế giới, ngày 18-4-1954)

 

- "... Nhiều cuộc diễn tập các lực lượng lục quân, không quân Mỹ đã diễn ra ở Nhật và Triều Tiên. Đây là một cuộc tổng duyệt kế hoạch can thiệp của Mỹ vào Đông Dương. Phương án chính thức của cuộc tập trận ấy là: "Chiến đấu ở Đông Dương trong mùa mưa". Song song với các cuộc hành binh ấy, hai hàng không mẫu hạm Mỹ đang "diễu võ dương oai ở vịnh Bắc Bộ".

(Báo Nhân đạo, ngày 21-4-1954)

 

- "... Đô đốc Rátpho cho rằng, sự viện trợ của Mỹ đối với đội quân viễn chinh có thể tiến xa hơn một bước nữa đến mức thành một sự ủng hộ của không quân chiến thuật hạn chế và tạm thời... Điều mà Đô đốc Rátpho đề nghị với tướng Ely là như sau: độ 60 máy bay hạng nặng B.52 từ căn cứ Clác (Clarxfield) gần Manila sẽ bay đêm nhiều lần đến Điện Biên Phủ. Mỗi lần những máy bay đó sẽ ném 450 tấn bom và sẽ do 150 máy bay khu vực của các hàng không mẫu hạm thuộc hạm đội 7 hộ tống. Như vậy có thể tàn phá khoảng đất trở thành vòng vây của tập đoàn cứ điểm, nơi mà Việt Minh tập trung nhiều phương tiện lớn lao".

(Đờvile và Lacatuya: Từ cuộc chiến tranh của người Pháp đến cuộc chiến tranh của người Mỹ)

 

- “... Trở về Pari... Tướng Ely tức thời cho Plêven biết kết quả việc thực hiện nhiệm vụ của ông ta và nhất là đề nghị đặc biệt của Đô đốc Rátpho. Một "ủy ban chiến tranh" hạn chế phụ trách về Đông Dương họp ngày 29-3-1954 để thảo luận về các mặt chính trị, ngoại giao và chiến lược của cái mà từ nay được người ta gọi là cuộc hành binh "Diều hâu". Tham dự cuộc họp đó có Lanien, Biđôn, Râynô, Plêven, Đsơvinhê, Gavini, Crittien, Giăckê và các tướng Ely, Bơlăng, Phay, Cơrêpanh cùng Đô đốc Nonuy... Người ta nhận thấy là một sự hoạt động của không quân chiến lược Mỹ sẽ được coi như một sự can thiệp trực tiếp đầu tiên của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương và có thể dẫn đến một sự phản ứng mạnh của Trung Quốc... Nhưng Chính phủ tự nghĩ là có quyền tìm đủ mọi cách để cứu vãn Điện Biên Phủ. Ngay cả những bộ trưởng có thể cân nhắc kỹ càng về mối nguy của "những sự rắc rối quốc tế” cũng tự thấy không thể phản đối yêu cầu đó nếu không còn cách nào khác để cứu vãn vị trí bị bao vây... Sau khi thỏa thuận, Đại sứ Mỹ Đilơn được mời đến. Hồi 23 giờ 30 phút (ngày 4-4-1954), Đại sứ Mỹ được Thủ tướng Lanien tiếp, có mặt cả Biđôn. Thủ tướng Lanien thay mặt Chính phủ Pháp, đề nghị Đại sứ Đilơn yêu cầu Chính phủ Mỹ cho những máy bay hạng nặng có thể ném những bom 2.000 kilô và hơn nữa can thiệp để cứu vãn Điện Biên Phủ".

(Đơvile và Lacatuya: Sđd, tr. 73-75)

 

- "... ở đường Đoócxay (D'Orsay) (trụ sở của Bộ Ngoại giao Pháp), ông Biđôn giật nảy người, tưởng mình nghe lầm: "Và nếu người ta cho ông hai quả bom nguyên tử để cứu nguy Điện Biên Phủ". Người đó là Đalét. Hai ông Bộ trưởng đứng nói chuyện với nhau trong khung cửa một cửa sổ. Không thể lầm lẫn được. Ông Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, cựu sinh viên Trường Đại học Xoócbon (Sorbonne) sử dụng tiếng Pháp rất thành thạo, hiển nhiên là hiểu rõ mình định nói gì.

Ông Biđôn trả lời tức khắc: "Bom nguyên tử? Nhưng mà như thế thì người ta sẽ phá huỷ cả cái căn cứ cố thủ lẫn bọn Việt!".

(Tuốc Nu, trong cuốn Bí mật quốc gia,
Nbx. Plông, Pari, 1960, tr. 48).

- "Một vài quả bom nguyên tử chiến thuật ném đúng chỗ có thể cứu vãn được Điện Biên Phủ và làm thay đổi được cục diện chiến tranh ở Đông Dương".

(Tờ báo Không quân của Mỹ
(Air Foreés), tháng 4-1954)

 

- "Ở tầng thứ nhất, trong một phòng khách sang trọng, Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng thân Bửu Lộc và Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (Chính phủ bù nhìn, ND) đang đợi ông ta. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra trong 75 phút. Sau đó, Bêden Xmít cũng với vẻ mặt nghiêm trang, lên xe trở lại Giơnevơ...

Điều mà Bêden Xmít vừa nói với Bảo Đại là chấn động: "Tôi không tin là người Pháp và các ông có thể đi đến một cuộc đình chiến có danh dự với cộng sản. Vậy thì phải tiếp tục cuộc chiến tranh đồng thời với việc chúng ta đàm phán hòa bình. Ông Aixenhao không thể can thiệp trực tiếp như ở Tnều Tiên vì những lý do thuộc về chính trị trong nước. Chính ông ta đã được bầu làm Tổng thống cho chủ trương rút quân đội Mỹ về, ông ta không thể lại đưa quân đội đó sang Đông Dương. Nhưng chúng tôi có thể cho các ông đội quân Việt Nam lớn mạnh, điều mà các ông còn thiếu. Chúng tôi đã làm điều đó với Lý Thừa Vãn. Các ông sẽ có những vị tướng và Bộ Tham mưu của các ông. Các ông hãy làm áp lực với người Pháp để cho chúng tôi huấn luyện những sư đoàn mới, đó là giới hạn có thể thực hiện được của một sự can thiệp Mỹ...".

(Báo Pari mát, số 298
từ ngày 22 đến ngày 29-5-1954)

 

- "Ngay từ 14-3, tướng Cônhi yêu cầu tôi giao cho ông ta ba tiểu đoàn dù (trong số năm tiểu đoàn dự bị) nhằm mục đích tổ chức phản kích để đánh chiếm lại hai trung tâm đề kháng đã bị mất. Tôi đồng ý ngay. Ngày 14 và 16, hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và Tiểu đoàn dù Việt Nam số 5) được thả xuống tập đoàn cứ điểm. Điều đáng tiếc là đại tá Đờ Cát đã sử dụng hầu hết các đội dự bị của mình để lấp lỗ hổng trong bố trí, nên binh lực được tập trung lại không đủ để tiến hành một cuộc phản kích mạnh mẽ được. Còn các kho dự trữ đạn dược cũng đã vơi đi rất nhiều. Hơn nữa, thời tiết rất xấu, nên trong ba ngày, máy bay không thể tập trung sử dụng cao độ được. Sau khi hỏi ý kiến đại tá Đờ Cát, tướng Cônhi đã bỏ ý định phản kích".

(Hăngri Nava: Sđd, tr. 222-223)

 

- "... Chỉ trong vòng một tháng, chúng ta ném vào cuộc chiến đấu 450 máy bay, xuất trận 6.000 lần, nghĩa là hằng ngày có 200 lần máy bay xuất trận và mỗi giờ có gần 10 lần. Nếu chúng ta nghĩ rằng, mỗi máy bay hoạt động từ 10 đến 40 phút trên căn cứ cố thủ thì có thể nói là thường xuyên có hàng chục máy bay lượn vòng trên lòng chảo, cái thì thả dù lương thực và đạn dược, cái thì ném bom, cái thì bắn phá dưới đất và những cái cuối cùng thì thả napan. Thật là một cuộc quay vòng tròn trong một chu vi rộng có 10 đến 20 kilômét. Vùng trời Điện Biên Phủ đúng là dày đặc máy bay và cũng kỳ lạ là không xảy ra máy bay đâm lẫn nhau. Suốt 24 giờ trong ngày, một máy bay chỉ huy lượn trên lòng chảo để chỉ huy các hoạt động không quân và suốt đêm có những máy bay "đom đóm" (máy bay thả pháo sáng) làm nhiệm vụ thường trực".

(Báo Nước Pháp buổi chiều, ngày 9-6-1954)

 

- "... Những giờ phút cuối cùng của binh lính đồn trú Điện Biên Phủ được hai vị tướng lĩnh, tướng tại trận và tướng ở Hà Nội khai thác om sòm. Đối với ông tướng tại trận thì phải giật cho được lên cấp tướng trước khi ông ta đầu hàng. Còn tướng ở Hà Nội đưa ra những lý do ngẫu nhiên khác để làm cho trận thất bại đó thành thất bại của những kẻ khác chứ không phải của ông ta. Và hai người đều đã thành công tốt đẹp. Người ta có thể khen ngợi họ về việc đó. Nhưng ngược lại, mẩu chuyện đối thoại được trao đổi bằng điện thoại giữa hai vị tướng đó trước khi đầu hàng và được báo chí truyền đi khắp nơi là sự ghi chép khôi hài không cần thiết, vì rằng tình thế lúc đó rất bi thảm.

Tổng chỉ huy nói chuyện bằng điện thoại từ Hà Nội:

- Ông không được đầu hàng nghe không? Không được kéo cờ trắng, phải tự sát tại trận.

Chỉ huy tập đoàn cứ điểm:

- Xin lấy danh dự quân nhân mà hứa với ngài như thế. Đây là người đã hy sinh suốt đời, xin gửi ngài lời chào vĩnh biệt.

Tổng Chỉ huy ở Hà Nội:

- Tốt lắm. Tôi tin vào lời hứa danh dự của ông và rất hài lòng. Tổ quốc sẽ coi tướng quân là một trong những bậc anh hùng thanh khiết nhất lịch sử nước ta. Hãy dũng cảm lên! Vĩnh biệt!

Ngày hôm sau, 7-5-1954, vị thiếu tướng vừa mới được đề bạt, người chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã kéo cờ trắng ra hàng quân Việt Minh".

(Giăng Hâyma: Sự thật về Đông Dương,
Nxb. Đơbrétxơ, Pari, 1962, tr. 142-143)

 

- "Những phút cuối cùng của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được cô Giơnivie đờ Gala (Genêviève de Galard) kể lại trong cuộc họp báo của cô ta ở Hà Nội.

Lần cuối cùng cô ta nhìn thấy tướng Đờ Cát là vào hôm trước ngày Điện Biên Phủ sụp đổ, trong hầm của sở chỉ huy Giuynông chôn sâu trong đất.

Vị tướng, nước da hơi tái, vẫn bình tĩnh lạ lùng. Đại tá Lănggle, Đại tá Bigia và một sĩ quan cao cấp nữa, cả ba đều là lính dù, vừa đến đề nghị với vị chỉ huy tập đoàn cứ điểm cho phép thử tiến hành một cuộc đột phá để phá vây. Tướng Đờ Cát đồng ý và họ dự định sẽ tiến hành cuộc phá vây tuyệt vọng đó vào ban đêm.

Đó sẽ là một trận chiến đấu rất gay go, bởi vì "lính dù" đã mệt mỏi sau hai tháng chiến đấu liên tục, nhưng dự định đó đã thất bại.

Ngày hôm sau, ngày mùng 7-5 là ngày Điện Biên Phủ thất thủ, một hội đồng chiến tranh đã được triệu tập vào buổi sáng, gồm những sĩ quan chủ chốt của sở chỉ huy. Cô nữ y tá cũng được tham dự để góp ý kiến về các vấn đề vệ sinh y tế. Chính lúc đó, người ta thừa nhận không thể tiếp tục cuộc kháng cự được nữa".

(Đờ Gala, y tá tại Điện Biên Phủ, kể trên báo Thế giới, ngày 27-5-1954)

 

- "Đầu giai đoạn thứ năm, Đờ Cát có 400 thương binh nằm và 700 thương binh ngồi. Từ ngày 1 đến ngày 8-5, tướng Giáp chuyển sang tổng công kích trên tất cả các mặt trận của cứ điểm Pháp. Trận địa đã bị chọc thủng nhanh chóng trên toàn bộ chu vi của nó và các cuộc phản kích chỉ khôi phục được tình hình ở từng nơi. Ngày 2 tháng 5, thả dù Tiểu đoàn dù thuộc địa thứ nhất. Đêm mùng 6 sang ngày mùng 7 tháng 5, Việt Minh tấn công khu trung tâm, hướng sự cố gắng chính của họ vào phía Đông, còn ở Idaben họ đã phá huỷ được hầu hết toàn bộ pháo. Ngày 7-5, vào hồi từ 17 giờ đến 19 giờ, trung tâm của tập đoàn cứ điểm bị thất thủ... sau khi đã giữ được 56 ngày và chịu đựng trên 200.000 phát đạn pháo trên cỡ 60 ly. Ngày 8-5, những người bảo vệ "Idaben" mưu toan rút chạy nhưng thất bại. Thiệt hại lên tới 16 tiểu đoàn trong đó có 7 tiểu đoàn dù, hai cụm pháo, v.v.; 36 máy bay đã bị hạ hoặc phá huỷ trên mặt đất".

(Claude Paillat: 20 năm xâu xé nước Pháp,
Nxb. Robert Laffont, Pari, 1972, tr. 55-56)

 

- "Có sự im lặng trên đoàn quân đã bị tiêu diệt. Một thứ mùi chết chóc, im lặng - mà các bạn đã biết - kèm theo tiếng rên rỉ và người ta nhận biết khi đã có một sự đổ nát lớn. Đó là sự thật đầu tiên của một cuộc thất trận. Rồi lại hiện ra trước mắt một sự thật khác và đáng ngạc nhiên hơn nhiều: sự thật về kỷ luật của Việt Minh! Tôi dự kiến sẽ có những hành động dã man. Nhưng sau tiếng súng cuối cùng một lát, tôi thấy một sự chu đáo kỳ lạ - lập lại trật tự hoàn toàn. Các sĩ quan của họ lượn khắp trận địa, không hề tự phụ là những người chiến thắng mà chỉ như thể là một cuộc hành quân vừa mới kết thúc và một cuộc hành quân khác đang bắt đầu. Không thể nhận ra một nét khoe khoang nào ở họ - không có lễ chiến thắng. Họ để mắt tới mọi thứ, họ ghi chép, ra lệnh cho binh lính của họ. ở chỗ kia, binh lính mang tiểu liên dồn tù binh lại, tập hợp họ thành hàng ngũ và dẫn họ đi. Mọi việc được tiến hành không có một hành động dã man tàn bạo nào và cũng không có sự thương hại. Như vậy, mọi sự phải làm với lòng nhân đạo. Thế là họ đang ở trong một thế giới với những giá trị mới. Tôi đang đối diện với những người địa phương thuộc trật tự của cộng sản. Đây là một cái gì có bản chất tuyệt đối, một nghìn lần hơn bất cứ cái gì mà chúng tôi gọi là kỷ luật. Đáng lẽ họ đánh vào đầu mọi người Việt Minh lại săn sóc những người bị thương khi tiếp nhận tù binh.

Đó là một chính sách không thể thất bại được, không thể chống lại được, mà kết quả lại càng tốt hơn khi áp dụng vào những kẻ địch xấu nhất, ác độc nhất, kể cả thực dân. Đó là việc giáo huấn để cải tạo những tâm hồn xấu xa...".

(Đavít Hônbécstơn, trong cuốn Hồ, Nxb. Radom House, New York, 1971)

 

- "Và trước hết, Chính phủ đã làm gì để ngừng cuộc chiến tranh gây chết chóc này.

Cách đây vài tháng, Chính phủ đã đứng trước một sự lựa chọn giữa hai chính sách: một chính sách có thể đưa lại hòa bình, chính sách khác dẫn đến quốc tế hóa cuộc chiến tranh. Chính đường lối thứ hai đã được lựa chọn.

Từ tháng Chạp, Chính phủ đã nhận được đề nghị của Cụ Hồ Chí Minh để chấm dứt các cuộc xung đột. Pari đã được tin cho biết rằng, đề nghị thương lượng của Cụ Hồ là thành thật, rằng vị lãnh tụ Việt Minh muốn thương lượng gấp, rằng thậm chí ông ta bực bội về sự mù quáng của người Pháp. Nhưng mà lại cũng có những người Mỹ đã "mua" "Kế hoạch Nava" và họ tin chắc như đinh đóng cột là chiến thắng quân sự được bảo đảm. Người ta nhớ đến bản thông báo kỳ khôi Pháp - Mỹ được quảng cáo rùm beng, sau khi Mỹ viện trợ bổ sung 385 triệu đô la dành cho việc tăng cường những cuộc hành quân chống Việt Minh. Thật vậy, Chính phủ chúng ta một mực nhất quyết "hết sức cố gắng để làm tan rã và tiêu diệt các lực lượng chính quy của kẻ thù ở Đông Dương".

Chính lời hứa đó đã đưa Chính phủ và Bộ Chỉ huy tối cao đi tìm mọi cơ hội để buộc "kẻ thù phải giao chiến, hoặc đi lùng kẻ thù ở các căn cứ của họ, hoặc thu hút kẻ thù vào một cái bẫy". Điện Biên Phủ phải đóng vai trò của cái cạm bẫy ấy".

(Macxen Phuriê, trong bài đăng trên báo Giải phóng (Liberation), ngày 8-9 tháng 5-1954)

 

- "Thất bại trong cuộc chiến tranh làm cho người Pháp bất mãn với chính mình. Họ oán ghét cả các sĩ quan Pháp, do sự hoàn toàn mù mịt về đối thủ, do sự đánh giá quá hợm hĩnh về khả năng quân đội và vũ khí, phương tiện của bản thân mình. Tất cả những điều đó gọi chung là sự kiêu ngạo.

Tướng lĩnh Pháp sang chỉ huy ở Đông Dương có nghĩa là đến sống ở những biệt thự lộng lẫy, ô tô, gái đẹp, hưởng thụ, và xoay xở. Chiến tranh phải kèm theo những bàn giấy, những máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, những Bộ Tham mưu và những phương tiện mà nhờ đó Bộ Tham mưu mới có thể di chuyển, mới có thể ngồi, ăn và ngủ thoải mái.

Liệu có được bao nhiêu chỉ huy cấp sư đoàn, lữ đoàn và trung đoàn của Pháp dám sống kham khổ với quân lính của mình, sống một cuộc sống như kẻ thù đang bao quanh họ, đi bộ trong các cuộc hành quân, vô hình, lặng lẽ và đáng sợ? Trái lại, không ít cấp chỉ huy cấp tiểu đoàn lê dương đã đem theo trong các cuộc hành quân một người phu mang một thùng rượu nhỏ để "tăng cường dũng khí" trong chiến đấu!

Còn nguồn tiếp tế cho quân lính Việt Minh? Bất chấp hàng tấn bom đạn đã được ném trên đường giao thông, con đường bảo đảm cho quân lính đối phương tiếp nhận được vũ khí trang bị ấy không bao giờ bị cắt dứt. Đừng nghĩ là sự viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Nava mà chính là những chiếc xe đạp Pơgiô của Pháp thồ được từ 200 đến 300 kilôgam, điều khiển bởi những con người ăn không đủ no và ngủ ngay trên những tấm ni lông trải trên mặt đất.

Tóm lại, tướng Nava không bị đánh bại bởi các phương tiện chiến tranh mà bởi trước hết là sự thông minh và ý chí quyết thắng của đối phương".

(Giuyn Roa: Điện Biên Phủ - Nhìn từ phía bên kia, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.172-173)

 

- "Quân địch đã thành công trong việc đưa lên các sườn núi bao quanh Điện Biên Phủ khá nhiều khẩu trọng pháo mà chúng ta không hề hay biết gì cả. Họ đã ngụy trang, cất giấu pháo rất kín đáo, đã đào hầm sâu và phân tán từng khẩu một trên khắp địa hình (không bố trí tập trung từng đại đội) và đã chuẩn bị một khối lượng đạn dược vượt ra ngoài mọi dự đoán. Chính uy lực của pháo bắn chuẩn bị vào các căn cứ tiền tiêu với một nhịp độ từ trước nay chưa từng thấy ở Đông Dương... đã gây nên yếu tố bất ngờ có tác động quyết định đối với quân đội chúng ta. Sau đó, tình trạng hỗn loạn do sự bất ngờ đó gây nên trong cứ điểm đã không bao giờ khắc phục được nữa...

Chiến dịch Điện Biên Phủ quả thực đã nhắc nhở chúng ta (nếu chúng ta có định quên đi điều đó) rằng: trong chiến tranh mặc dù có sự phát triển những kỹ thuật tinh vi, mặc dù có vai trò ngày càng quyết định của công việc tổ chức, song nhân tố "bất ngờ" vẫn còn có thể có tính chất quyết định. Đôi khi nhân tố đó có thể quyết định số phận của một chiến cuộc".

(Lanien: Sđd, tr. 44-46)

 

- "... Sau khi loại khỏi vòng chiến đấu một phần mười quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Việt Minh sắp đánh lớn vùng đồng bằng sông Hồng, dinh lũy cuối cùng của Pháp tại Bắc Việt Nam.

Thế trận sẽ diễn ra như thế nào? Việc gì sẽ xảy ra, mục tiêu của tướng Giáp là gì? Họ có những phương tiện gì? Liên quân Pháp - Việt (bù nhìn) sẽ đối phó ra sao?

Đó là những vấn đề cần giải đáp ngay từ bây giờ trước khi các tướng Ely, Xalăng, Pêlixiê hiện đang có mặt ở Đông Dương để cùng với hai tướng Nava và Cônhi xây dựng phòng tuyến, đối phó với Việt Minh...

Tin tức tình báo vạch rõ, mục tiêu chính hiện nay của tướng Giáp là tiêu diệt liên quân Pháp - Việt ở đồng bằng".

... "Với phương án bảo vệ toàn bộ đồng bằng, chúng ta cần phải có viện binh khoảng 60.000 quân để giữ đồng bằng. Nhưng ít có khả năng trong vòng sáu tuần lễ nữa có một đội quân tiếp viện để sẵn sàng chiến đấu được.

Để tránh bị rơi vào bẫy của Việt Minh, chúng ta có thể tiến hành phương án gọi là "tập hợp lại lực lượng của chúng ta ở đồng bằng". Phương án đó đã được các tướng Ely, Xalăng, Pêlixiê và Nava đang nghiên cứu ở Sài Gòn...

... Đó là những dự kiến thuần tuý quân sự của vấn đề đồng bằng. Tất nhiên chúng cũng có thể thay đổi từng giờ được. Vì tướng Giáp hiện nay do đã giành được quyền chủ động chiến dịch, sẽ chỉ sử dụng các tiểu đoàn của ông tuỳ theo sự tiến triển của Hội nghị Giơnevơ. Ngược lại, mọi cuộc tấn công về quân sự sẽ đi trước một sáng kiến về ngoại giao tại Giơnevơ.

Rất tiếc rằng, về phía ta, chính sách về Đông Dương thi hành từ nhiều năm nay đã dẫn đến thất bại quân sự mà mọi người đang biết...".

(Pie Buốcgiê, bài đăng Báo Rạng Đông, ngày 22-23 tháng 5-1954)

- Tướng Giáp sẽ thực sự tham chiến khi nào ông nắm chắc thắng lợi, ông còn ba tuần lễ để mở cuộc tấn công. Trong khi chờ đợi, ông làm tiêu hao quân Pháp phòng thủ cứ điểm Phủ Lý ở cách Hà Nội 60 kilômét về phía nam.

Ngay bây giờ, Việt Minh có thể cắt đứt Hà Nội với vùng biển Hải Phòng và ép Cônhi vào trong những đồn lũy cuối cùng. Trạng thái yên tĩnh bao phủ đồng bằng hình như là trạng thái yên tĩnh của một cơn hôn mê".

(Báo Rivarôn, ngày 8-7-1954)

 

- "Cần ghi nhớ sâu sắc rằng, trong các khu vực kém phát triển ở châu Phi, châu Mỹ, với trình độ văn hóa thấp kém, địa lý phức tạp, kinh nghiệm tổ chức quân đội, nhưng hình thức chiến thuật đã được áp dụng của Việt Minh - rất hiển nhiên là đã đánh bại người Pháp - đặc biệt có thể được học tập và đem ra áp dụng ở cả châu Mỹ lẫn châu Phi".

(Gioócgiơ K. Tenyhen: Chiến tranh cách mạng cộng sản, New York, 1963)

 

- “Bị đè bẹp về quân số và về pháo binh, Điện Biên Phủ không còn nữa. Không việc gì mà ta phải giấu giếm cái đòn ta đã chịu. Dù rằng, đối phương có số quân gấp bốn chúng ta; dù rằng cuộc kháng cự ở Điện Biên Phủ đã cứu được Luông Phabăng và có lẽ cả Hà Nội thì sự thất thủ của Điện Biên Phủ cũng vẫn là một thất bại".

(Đờ Giăng - Cao ủy Pháp ở Đông Dương: Thông điệp gửi người Pháp ở Đông Dương, ngày 8-5-1954)

 

- “... Không phải bàn cãi nữạ, trận Điện Biên Phủ là kết quả chua xót về sai lầm chiến dịch của tướng Nava. Nhưng đó cũng là sự kết thúc. Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với những sai lầm của một đường lối quân sự đã được áp dụng trước ngày thành lập Chính phủ Lanien khá lâu...

Cả về chính trị và quân sự, Điện Biên Phủ chỉ là đoạn cuối cùng của cái ngõ cụt mà nước Pháp đã dần dần bước vào".

(Tướng Catơlu: Hai màn của tấn kịch Đông Dương, Nxb. Plông, Pari, 1959)

 

- "Người Pháp ở Đông Dương vẫn còn run sợ khi nhắc đến Điện Biên Phủ. Tấn bi kịch trong những ngày cuối cùng của cái thung lũng trơ trọi giữa núi non đó đã trở nên có tiếng vang gần giống như trận Oatéclô trong lịch sử nước Pháp".

(Pitơ Acmét, Báo Nhân dân, ngày 7-5-1964)

 

- "Trên toàn thế giới, việc thất thủ Điện Biên Phủ xuất hiện như một sự kiện hàng đầu trong những năm gần đây, khiến những người đồng minh của phương Tây buồn rầu, còn những nước cộng sản thì vui mừng".

(Báo Pháp Chiến đấu, ngày 8-5-1954)

 

- "... Nước Mỹ đã bị xúc động sâu sắc bởi tấn thảm kịch ở Điện Biên Phủ. Những câu nói cuối cùng của tướng Đờ Cát: "Họ chỉ còn ở cách vài thước. Họ đã xâm nhập khắp nơi...", truyền từ người này đến người khác như một vệt thuốc súng trong góc buồng giấy, trong các cửa hàng, trong các câu chuyện, trong các phòng khách, người ta ngừng làm việc để đọc những bản tin đăng trên trang nhất các báo. Phiên họp để nghe trình bày bản điều tra về chủ nghĩa Mác Cacty (Mac Carthy) đã phải hoãn một lúc và chính thượng nghị sĩ chống cộng đã phải ngừng nói để người ta thông báo tình hình và sau khi nghe tin, cả phòng họp đều im lặng".

(Báo Nước Pháp buổi chiều, ngày 10-5-1954)

- "Người Pháp - sau này người Mỹ cũng vậy - không hề hiểu rõ cuộc chiến tranh và đối thủ của họ. Họ tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế chống một nước nhỏ hơn. Ngược lại, Việt Nam tiến hành một cuộc chiến tranh vì sống còn. Địch thủ của Pháp - cũng như của Mỹ 20 năm sau - là tất cả dân tộc Việt Nam.

Quân địch ở khắp nơi. Ai cũng có thể là địch thủ. Mỗi cần vụ, mỗi người hầu trong nhà, mỗi thư ký là người Việt Nam đều có thể là tay chân của Việt Minh cộng sản. Mỗi phụ nữ trong các làng có thể là một điệp viên, báo cho Việt Minh biết một đội tuần tra Pháp đã đến chỗ nào, bao nhiêu lính, mang súng gì, nhưng không hề nói cho Pháp biết điều gì".

(Đavit Hônbécstơn, trong cuốn Hồ,
Nxb. Radom House, New York, 1971)

 

- "Để gỡ trách nhiệm cho Bộ chỉ huy của chúng ta, cần lưu ý rằng do thiếu sót của các cơ quan tình báo, Bộ Chỉ huy đã không có điều kiện đánh giá đúng đắn lực lượng quân địch. Tình trạng thiếu tin tức tình báo về địch ngược hẳn lại với tình trạng tiết lộ bí mật phổ biến trong chúng ta là một trong những nhân tố tai hại nhất của cuộc chiến tranh này. Kẻ địch nắm rất chắc mọi ý đồ của chúng ta và giữ bí mật gần như tuyệt đối về các ý đồ của họ... Sai lầm bi thảm này chủ yếu thuộc phạm vi các phương tiện về pháo binh của địch...".

(Lanien: Sđd, tr. 44-45)

 

- "Cuộc chiến tranh Đông Dương không phải là một cuộc chiến tranh như những cuộc chiến tranh khác. Đó là một cuộc chiến tranh mà đất nước chưa hề hiểu được là có lợi ích gì cho dân tộc, là một cuộc chiến tranh mà đất nước đã mệt mỏi, chán ngán và người ta đã để cho đất nước nghĩ rằng cuộc chiến tranh đó không còn một ý nghĩa nào nữa. Và đặc biệt, đó là một cuộc chiến tranh mà đại đa số các chính khách chỉ có tìm một cái cớ để chấm dứt nó. Vì thế, những hậu quả của vụ thất thủ Điện Biên Phủ đã tỏ ra là có thể nghiêm trọng hơn nhiều, điều mà thất bại vừa qua của chúng ta, về mặt quân sự, không xác minh là đúng...".

(Hăngri Nava: Sđd)

 

- "Trong lịch sử của mỗi dân tộc đều có những sự kiện có tính chất quyết định. Những tên gắn liền với chúng, cả những ngày tháng cũng thế, chứa đựng một ý nghĩa vượt qua bản thân các sự kiện đó. Sáng sủa hay đen tối, trước mắt mọi người, những sự kiện đó đều tượng trưng cho một số phận tốt hay xấu của nước nhà.

Điện Biên Phủ là một trong những tên như thế.

... Điện Biên Phủ, Giơnevơ, giữa hai tên đó, hai nhật ký đó là một trong những bước ngoặt bi thảm nhất của đời sống dân tộc chúng ta...

Thất bại cực kỳ to lớn ở Đông Dương đã làm cho Chính phủ Pháp lo ngại, chủ yếu do những tác động vang dội của nó ở Pari nhiều hơn là do tình thế mới tạo nên ở Đông Dương. Về mặt tinh thần, Điện Biên Phủ đã giáng một đòn tinh thần rất nặng nề vào dư luận quần chúng cũng như vào một vài giới quân sự...

... Việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương sẽ mở ra một kỷ nguyên mới: đúng thế, song đó là một kỷ nguyên của những thất bại, tuyệt vọng, khủng hoảng quốc gia...".

(Lanien: Tấn bi kịch Đông Dương, Sđd)

 

- "Trên toàn thế giới, Oatéclô ít có tiếng vang hơn. Điện Biên Phủ thất thủ đang gây ra một sự kiện kinh hoàng ghê gớm. Đó là một trong những thất bại lớn của phương Tây, báo hiệu sự tan rã của các thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa. Tiếng sấm của sự kiện còn đang vang".

(Giuyn Roa: Sđd)

 

- "Vấn đề hợp lý hơn cả là tìm cách xác định những hậu quả của Điện Biên Phủ. Nếu tính toán theo số học, sự thiệt hại của ta trong trận Điện Biên Phủ chỉ biểu hiện một tỷ lệ phần trăm khá thấp so với tổng số quân. Song đáng chú ý là một bộ phận của những lực lượng tinh nhuệ của chúng ta, của "mũi lao nhọn" của chúng ta cũng bị tổn thất...

Sự nghiêm trọng chính là ở trạng thái tâm lý do thất bại gây ra trong một cuộc chiến tranh lật đổ mà chúng ta phải gánh chịu ở Đông Dương và trong đó nhân tố tinh thần có một vai trò quyết định hơn là trong mọi cuộc chiến tranh khác. Sự thất thủ của tập đoàn cứ điểm đã gây ra một sự choáng váng sâu sắc không có lợi cho chúng ta. Về phía Việt Minh thì thật là khoan khoái...

Thất bại ở Điện Biên Phủ có dư âm của nó trên thế giới và những hậu quả của nó về mặt tâm lý đã không ủng hộ chúng ta trong cuộc hội đàm ở Giơnevơ".

(Pôn Ely, Cao ủy Pháp, Tổng tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương: Đông Dương trong cơn gió lốc, 1962)

 

“Hôm nay, 30-4-1975, tại nơi trước kia là xứ Đông Dương thuộc Pháp, quân đội Việt Minh trước đó 22 năm đã vào Điện Biên Phủ, bây giờ đã đặt chân tới Sài Gòn. Cuộc hành quân của Việt Minh mà năm 1953 tôi đã ngăn chặn được, nhưng rồi họ đã thực hiện và cuộc tiến công ấy đã thành công. Tại miền Nam Việt Nam, Việt Minh đã hoàn toàn chiến thắng. Đất nước Việt Minh, hay Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ là một bộ máy do cộng sản nắm quyền và họ sẽ ngự trị tất cả. Việt Minh sẽ thống nhất nhanh chóng chiến thắng của họ bởi vì các cán bộ chính trị của họ đã sẵn sàng từ lâu rồi. Sau cuộc chiến, Việt Minh sẽ cố gắng khai thác một xứ sở phong phú đủ loại tài nguyên... 50 triệu người Việt cần cù và thông minh từ nay sẽ lập thành một nước lớn.

Rồi cũng đến lúc nhân dân có đủ gạo. Miền Nam thì thừa thãi, đủ bù đắp cho miền Bắc còn khó khăn. Các đồn điền cao su, cà phê, hồ tiêu - di sản của Pháp để lại - cũng thật đáng giá để cung cấp cho đời sống của họ... Và còn nữa, người ta đã chẳng nói đến dầu mỏ ở ngay tại bờ biển Nam Bộ đó sao?

Chính phủ đã thống nhất, lại thêm quyết tâm và có thời gian. Lại có cả một nhân tố quan trọng cực kỳ, đó là quân đội của họ, một quân đội đi từ Điện Biên Phủ tới Sài Gòn, rất kỷ luật và can trường, sẵn sàng phục vụ đường lối chính trị của Chính phủ.

Quân đội của họ, gồm những người được tuyển mộ trong lớp thanh niên hăng hái - trước kia toàn là người tình nguyện - được nước Pháp dâng cho Điện Biên Phủ bằng cả hai tay, nay lại được nước Mỹ biếu không Sài Gòn và một số lượng dụng cụ chiến tranh khổng lồ đáng giá nhiều tỷ đô la, đã trở thành một bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp.

... Họ là những người mà sĩ quan Pháp vẫn coi là "đối thủ đáng kính trọng". Người Mỹ coi thường họ và hiển nhiên họ đã đánh bại người Mỹ, tuy sức mạnh về số lượng và kỹ thuật vượt hơn họ nhiều lần. Họ là cái bảo đảm cho cả một Đông Dương đỏ".

(Xalăng: Đông Dương đỏ, Pari, 1975)

 

- “Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ”

Trong hai ngày 21 và 22-11-2003, tại Pari đã diễn ra Hội thảo khoa học 1954 - 2004: Trận Điện Biên Phủ, giữa lịch sử và ký ức do Trường Đại học Tổng hợp Pari 1 - Pantheon Sorbornne, Trung tâm Lịch sử quốc phòng - Bộ Quốc phòng Cộng hòa Pháp phối hợp với Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Việt Nam tiến hành.

Hội thảo có 17 báo cáo khoa học, trong đó có 13 bài của người Pháp:

- Hugues Tertrais: Chiến lược và những quyết định.

- Pierre Gro sser: Sự thất bại quân sự và ngoại giao: Chính sách của Pháp trong Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ.

- Peé déric Turpin: Điện Biên Phủ và tầng lớp chính trị Pháp: Một nhận thức tập thể đau lòng.

- Laure Cournil: Binh lính của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ.

- Michel Bodin: "Quân đội quốc gia" Việt Nam ở thời điểm cuối cuộc xung đột (1953 - 1954).

- Michel David: Chiến tranh du kích trong vùng hậu phương Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ.

- Philipie Gras: Đánh phá giao thông của không quân Pháp.

- Anne Logeay: Ai là người nhớ tới Điện Biên Phủ, Những ngõ cụt ký ức ở Pháp.

- Michel Fournié: Ký ức Điện Biên Phủ: Từ văn học đến giảng dạy.

- Pierre Schoen Doer ffer: Làm phim Điện Biên Phủ: Từ trận đánh đến tưởng tượng.

- Jean Jacques AnZalier: Sự tổn thất về người.

- Phierre Journoud: Từ nhân chứng đến lịch sử.

- Alain Ruscio: Sách Pháp và Điện Biên Phủ, nửa thế kỷ nghiên cứu và kiểm nghiệm.

Các bài tham luận trên đây đã nói về những sai lầm, thất bại về quân sự, chính trị và ngoại giao của Pháp ở Điện Biên Phủ và những thất bại đó ảnh hưởng đối với chính giới và quân đội Pháp trong thế kỷ qua.

 

Trích trong cuốn "Chiến thắng Điện Biên Phủ - Cột mốc vàng lịch sử",

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 4-2014