Trang chủ Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào Quân tình nguyện Việt Nam - Biểu trưng sáng mãi cho tình anh em Việt Nam - Lào

Quân tình nguyện Việt Nam - Biểu trưng sáng mãi cho tình anh em Việt Nam - Lào

Được lịch sử kiểm nghiệm qua 60 năm, ngày 30-10-1949 được xem như tiêu điểm thời gian của sự tụ hội các tư tưởng cao đẹp của một chủ trương chiến lược tài giỏi của Bác Hồ vĩ đại, của Đảng ta, của quân đội ta trong sự nghiệp liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào. Như nội dung đánh giá của hai Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, sự nghiệp liên minh chiến đấu giải phóng hai dân tộc Việt - Lào là một thành tựu mẫu mực trong lịch sử quan hệ quốc tế, có một không hai trong lịch sử văn minh nhân loại.

6903544824 425e997d04 z

Lễ ký kế hoạch hợp tác năm 2012 giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Lào (2012)

Thực tế chiến đấu suốt 30 năm (1945-1975) diễn ra trên chiến trường Lào, tất cả các lực lượng vũ trang giúp Lào đã quên mình đi làm nhiệm vụ chính trị thiêng liêng của một quân đội kiểu mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, không mệt mỏi của Bác Hồ vĩ đại với phương châm “giúp bạn là mình tự giúp mỉnh”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên cả ở hải ngoại và trong nước, ở các liên khu tiếp giáp với Lào (Liên khu 1, Liên khu 10, Liên khu 3, Liên khu 4, Liên khu 5,…) cùng với các đơn vị Việt kiều ở Thái Lan, ở Lào đã giúp bạn phát động quần chúng, tổ chức nhân dân đứng lên chống quân xâm lược. Đến nay, lịch sử đã ghi danh các đơn vị: Khu đặc biệt; các đội Tây Lào, Thượng Lào, Trung Lào, Nam Lào; Phòng Biên chính; Ban Xung phong Lào Bắc; Trung đoàn 138 của Tây Bắc; Đoàn vũ trang công tác miền Tây của Khu 3; các phân khu A, B, C,… Đến ngày 30-10-1949, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thống nhất lại các lực lượng quân sự. Từ đây do sự phát triển của chiến trường, việc giúp bạn có thêm các tổ chức: Đoàn cố vấn 100; Đoàn chuyên gia 959; 463; 565; các đơn vị tình nguyện quân: Đoàn 968, E766; E866; E280; E335; và khi có chiến dịch lớn thì có các tổ chức 678, 567, 379 sang giúp gìn giữ an ninh, bảo vệ chính quyền mới của bạn.

Những ngày đầu trên đất Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào phát triển chưa mạnh, các tổ chức cách mạng Lào còn yếu, việc đưa cách mạng Lào phát triển để có sức mạnh phối hợp được trên chiến trường Đông Dương là một nhiệm vụ vô cùng nặng nề. Đội quân tình nguyện phải thực sự là một đội quân giỏi toàn diện để góp phần giúp bạn từ việc giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức thành phong trào chính trị yêu nước, chống xâm lược, đến việc tiến lên thành tổ chức vũ trang tự vệ, thành lực lượng vũ trang vững mạnh.

Suốt quá trình đó, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam phải “ba cùng” với nhân dân, bộ đội Lào, cùng sản xuất, đồng cam cộng khổ, hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa, nhất là trong vùng địch hậu, trong điều kiện rừng núi, đói, rét, bệnh tật, ngôn ngữ chưa thạo, phong tục tập quán chưa quen, quân địch lại ra sức tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chia rẽ. Cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện, chuyên gia phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ, vượt qua mọi thử thách, hy sinh. Có những người đã gần hết cuộc đời gắn bó với buôn, bản, sông núi Lào, hết lòng thương yêu nhân dân Lào, kiên trì bền bỉ trong mọi công tác, mưu trí, anh dũng chiến đấu, bị thương không rời trận địa, tự nguyện hy sinh để cứu bạn, sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình. Nhiều vùng trên đất Lào phong tục tập quán còn phức tạp, đời sống rất khó khăn, để gần dân, làm được công tác vận động cứu nước, tình nguyện quân phải để tóc dài, đóng khố, phơi nắng cho da đen, xuống tận buôn làng hướng dẫn dân cấy lúa, trồng bông, dệt vải, làm muối, dạy dân học chữ, giúp dân chữa bệnh, đỡ đẻ cho sản phụ,… Những công việc trên đã gây dựng được tình cảm “đi dân nhớ, ở dân thương” với nhân dân các bộ tộc Lào, tiêu biểu là các anh hùng Nguyễn Riềng, Lò Văn Bường, Lý Văn Thím,…

Trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ không cân sức, với dã tâm xâm lược và nhất là trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt tăng cường, đế quốc Mỹ đã ném xuống đất nước Lào trên 3 triệu rưỡi tấn bom đạn (lớn hơn 2 lần số bom đạn trong Chiến tranh thế giới thứ hai và gấp 23 lần trong vụ Mỹ ném bom xuống Nagasaki và Hirosima), tập trung vào việc giành giật Cánh đồng Chum, đường 9 - Nam Lào và Bôlavên,… Chúng tôi vô cùng cảm kích trước sự hy sinh to lớn cửa nhân dân Lào, tuy mất mát đau thương nhưng không hề nao núng, vẫn giữ một niềm tin vững chắc vào người bạn Việt Nam, tiếp tục đùm bọc, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ tận tình quân tình nguyện như con em của mình, nhường cơm sẻ áo, sống chết có nhau, nuôi dưỡng, che giấu, bảo vệ cán bộ lúc hiểm nguy, vượt qua mọi tập quán kiêng cữ cổ truyền.

Và từ đó, hai anh em Việt - Lào cùng chung một chiến hào, đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác và ngày càng trưởng thành. Từ so sánh lực lượng yếu kém ban đầu đã dần dần tiến đến so sánh lực lượng hơn địch, nhân dân và lực lượng vũ trang Lào đã tự lực giành thắng lợi và khi thời cơ đến đã giành được thành tích vĩ đại lập nên nước cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử Lào (ngày 2-12-1975).

Từ những thành tựu to lớn nói trên, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào, thay mặt nhân dân Lào, đã có những phát biểu hết sức chân tình và xúc động. Đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản xác nhận: “Các cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang giúp Lào, kề vai sát cánh chiến đấu, sống chết bên nhau. Các đồng chí đã yêu quý, chăm lo nhân dân lào như bố mẹ mình, anh em ruột thịt của mình. Nhiều đồng chí đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào…”.

Ha-Tinh-to-chuc-ky-niem-50-nam-ngay-thiet-lap-quan-he-ngoai-giao-35-ngay-ky-Hiep-uoc-huu-nghi-va-hop-tac-Viet-Nam--Lao-5Đồng chí cố Chủ tịch nước Xuphanuvông cho rằng: “Trên đời này không có gì cao cả và đẹp đẽ bằng mối tình hữu nghị Việt - Lào, Việt Nam luôn trong trái tim tôi…”.

Đồng chí Khăm Tày Xiphănđon phát biểu tại Hội nghị tổng kết nhiệm vụ liên minh chiến đấu Việt - Lào, tháng 12-1975 như sau: Trong cuộc chiến đấu chống đế quốc, thực dân cũ và mới rất gay go quyết liệt, lâu dài, gian khổ, không nơi nào trên đất nước Lào là không có dấu chân của chiến sĩ tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam. Nhiều đồng chí đã hy sinh thân mình vì sự nghiệp cách mạng Lào. Chiến công và tấm lòng son sắt của các đồng chí không thể nào diễn tả hết và không bao giờ phai mòn trong tâm khảm của nhân dân các bộ tộc Lào chúng tôi… Trong lễ tiễn quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam về nước cuối năm 1975, đồng chí Khăm Tày Xiphănđon - đại diện Quân đội giải phóng nhân dân Lào - tặng Quân tình nguyện Việt Nam một thanh kiếm và nói: Thanh kiếm tượng trương tinh thần thượng võ của nhân dân các bộ tộc Lào, xin tặng và gửi gắm niềm tin thiêng liêng của mình vào người bạn cùng một chiến hào luôn trung thành, tận tụy, thủy chung của chúng tôi…

Nhân dân và cán bộ Lào cũng thường nói: Hễ nói đến quan hệ của nhân dân Lào với tình nguyện quân Việt Nam là nói mối quan hệ cha mẹ với con cái. Tình nguyện quân Việt Nam là những người con ưu tú của nhân dân Lào, sinh ra cùng một dòng máu - dòng máu chính trị…

Chúng tôi mang nặng công ơn của nhân dân Lào từ những tình cảm cao quý và thâm sâu nói trên. Biết bao kỷ niệm hằn sâu trong tâm trí, biết bao ký ức còn đặc quánh trong tâm hồn đến ngày nay.

Yêu tố tinh thần đó cùng với tinh thần yêu nước, sự quan tâm lãnh đạo sâu sắc của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã biến thành sức mạnh vật chất giúp quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ. Và khi trở về Tổ quốc đã phát huy được truyền thống năm xưa, ra sức học tập, tham gia xây dựng đất nước, luôn nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu, nêu nhiều tấm gương sáng trong nhân dân. Nhiều đồng chí đã lao động sáng tạo, trở thành nhà khoa học, làm công tác tổng kết, viết lịch sử, tham gia biên soạn Công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam”, tiếp tục giúp bạn tổng kết chiến tránh, thường xuyên duy trì quan hệ với đại sứ quán và cơ quan lãnh sự Lào để gìn giữ tình đoàn kết Việt - Lào đã được đúc kết trong quá khứ…

Càng tự hào về truyển thống, về những thành tích đã đạt được, chúng tôi càng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - người đã giáo dục, rèn luyện quân đội ta từ lập trường, tư tưởng, quan điểm đến nguyên tắc, phương châm, thái độ giúp bạn: phải luôn yêu quý nhân dân Lào, luôn đứng về phía lợi ích của dân tộc Lào mà hoạt động, xem đất nước Lào như quê hương của mình,… Dưới Bác có Quân ủy Trung ương, có đồng chí Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp theo dõi, chỉ đạo sát sao suốt 30 năm. Cùng với đó là sự đoàn kết, hợp tác đầy tin cậy của Đảng, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Lào anh em.

Thành tích và giá trị của thành công trong sự nghiệp liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào đời đời là niềm tự hào của hai dân tộc, chứng minh hùng hồn bản chất cách mạng ưu tú và tính quy luật cơ bản trong khoa học chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, đóng góp nhiều bài học kinh nghiệm vào phong trào giải phóng dân tộc thế giới: sự sáng tạo về đường lối, chiến lược, phương pháp cách mạng, triệt phá được âm mưu, thủ đoạn chiến tranh xâm lược,… Chúng ta không khoa trương nhưng tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào thực sự là một kỳ quan về văn hóa đối ngoại mẫu mực trên thế giới. Cả thế giới trân trọng dân tộc Việt Nam là một dân tộc trọng tín, trọng nghĩa, thông minh, tài trí và mối quan hệ Việt Nam - Lào là một minh chứng sâu sắc.

Chúng tôi thấy hạnh phúc khi nhìn lại lịch sử đoàn kết Việt Nam - Lào và nhận thức sâu sắc rằng sự đoàn kết trong sáng, trung thực giúp đỡ nhau tận tinh, thiết thực ấy xuất phát từ các nhu cầu của cách mạng hai nước, sẵn sáng hy sinh xương máu, không vụ lợi, không tính toán lợi ích riêng tư, dân tộc hẹp hòi vì mục tiêu độc lập, tự do cho mỗi dân tộc.

Những bài học này còn nguyên giá trị thực tiễn của nó, đã biến thành quy luật sinh tồn của hai dân tộc cả trong hiện nay và mãi mãi muôn đời sau.

Thiếu tướng HUỲNH ĐẮC HƯƠNG*

Nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh quân tình nguyện

và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào.

Bài trích trong cuốn "50 năm quan hệ Việt Nam - Lào: Sáng mãi tình anh em",

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2012.



* Trích bài phát biểu nhân Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.