Quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai, bất cứ chính thể nào; là quyền tất yếu con người được hưởng và được tôn trọng. Quyền con người bao gồm quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội), quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật...

Quyền công dân là những điều pháp luật ở mỗi nước quy định, công nhận cho công dân nước ấy được quyền hưởng, quyền làm và quyền đòi hỏi; được quyết định bởi nhà nước và được quy định trong các văn bản pháp luật mà cao nhất là Hiến pháp.

Quyền công dân luôn gắn liền với nhà nước, với chính thể có khả năng bảo đảm thực hiện và tôn trọng các quyền đó.

Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm cùng loại, đồng dạng nhưng không đồng nhất mà có những giá trị xã hội khác nhau. Quyền con người nói chung bao gồm cả quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 của nước ta quy định, chủ thể quyền không chỉ là công dân mà quyền của con người, của mọi người với tư cách thành viên xã hội, người nước ngoài có mặt trên lãnh thổ Việt Nam,... cũng được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người. Hiến pháp năm 2013 xác định rất rõ ràng về tính riêng biệt của quyền con người, quyền công dân. Những quy định mới trong Hiến pháp năm 2013 phù hợp với Bộ luật Nhân quyền quốc tế, các điều ước quốc tế về nhân quyền và với chủ trương, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 có riêng chế định về quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên chương là "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" (tên gọi trong Hiến pháp năm 1992 là "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"), đã hiến định những yêu cầu cơ bản về bảo đảm quyền con người bên cạnh quyền công dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, được đưa lên vị trí trang trọng trong Hiến pháp năm 2013, Chương II (Hiến pháp năm 1992 là Chương V) thể hiện nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không chỉ được quy định tập trung trong Chương II mà còn là quan điểm, nội dung xuyên suốt trong toàn bộ Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân..."[1]. Điều đó cho thấy bản chất Nhà nước Việt Nam là nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó nhấn mạnh đến bảo đảm quyền lực của nhân dân.

Trong mọi xã hội, quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đều được công nhận, tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người nói riêng và quan điểm, chủ trương của Đảng ta nói chung đều xác định quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ ta. Chỉ thị xác định: "Quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, pháp chế...".

Cách thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Các quy định của Hiến pháp năm 2013 cho thấy, không chỉ thông qua Nhà nước do mình xây dựng nên mà còn thông qua Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp, nhân dân có thể phát huy quyền làm chủ của mình. Đây là nền tảng cho việc hoàn thiện một hình thức dân chủ cao nhất là chế định bầu cử.

Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước là phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3, Hiến pháp năm 2013); trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức là phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 8, Hiến pháp năm 2013). Khoản 3 Điều 2, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định hạn chế lạm quyền dẫn đến vi phạm quyền con người, quyền công dân: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp"[2].

Đại hội XII của Đảng nhận định: "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành và sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội..."[3]; "Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết”[4]. Đại hội nêu rõ: "bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến... Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân”[5]; "Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"”[6].

(Trích trong sách:Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016)

[1]. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr. 8-9.

[2]. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.9.

[3], [4], [5], [6]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.166-167, 167, 169, 170.