Quyền công tố

Quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra) dùng để điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật.

Ở Việt Nam, cụm từ quyền công tố được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980.

Quyền công tố là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật..., thực hành quyền công tố[1]. Đến năm 2001, điều khoản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 đã bỏ chức năng kiểm sát nhân dân và quy định Viện kiểm sát "thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định"[2].

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, đồng thời không được để người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hạn chế các quyền... một cách trái pháp luật.

Hoạt động công tố là hoạt động tiếp theo của hoạt động điều tra. Việc buộc tội hay không buộc tội dựa trên kết quả của cơ quan điều tra đã thu thập được. Cơ quan có chức năng điều tra ở Việt Nam bao gồm: cơ quan điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải có căn cứ, đúng pháp luật.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: "Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra"[3].

(Trích trong sách: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016)

[1]. Xem Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 191.

[2]. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. tr. 74.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.179.