Trang chủ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân

Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân

Tóm tắt: Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam suốt mấy thập kỷ qua là nền tảng đường lối chiến tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được dẫn dắt bởi tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân.

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân, giai cấp, dân tộc

Nền tảng hình thành đường lối, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân là sự kế thừa, phát triển giá trị truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam; là sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới vào thực tiễn Việt Nam; đồng thời là một trong những nội dung quan trọng trong di sản tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh. Đến nay, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân trong tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, trong đó có những nội dung đặc sắc cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đó là:

Giương cao ngọn cờ chính nghĩa, kiên định mục đích nhân văn cao cả của chiến tranh

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rõ tính chất chính nghĩa của chiến tranh cách mạng Việt Nam - cuộc chiến tranh nhằm giành lại nền độc lập cho dân tộc, cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người chỉ rõ: “vì chính nghĩa, công lý của thế giới, vì đất nước giống nòi của Việt Nam, mà toàn quốc đồng bào ta nổi lên tranh đấu quyết giữ vững nền độc lập của ta. Chúng ta không ghen ghét gì dân Pháp, nước Pháp, chúng ta chỉ kiên quyết chống chế độ nô lệ và chính sách tàn nhẫn của bọn thực dân Pháp. Chúng ta không đi cướp nước ai. Chúng ta chỉ giữ gìn nước ta và chống lại bọn Pháp đi cướp nước”1. Người luôn nhắc nhở đồng bào: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc”2. Mục đích cao cả đó là sự tiếp nối mục tiêu của cách mạng Việt Nam đã được Người xác định ngay từ năm 1930 là “giành độc lập cho dân tộc” và “tiến tới xã hội cộng sản”, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngọn cờ chính nghĩa luôn được Hồ Chí Minh và Đảng ta giương cao. Đó là ngọn cờ quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp toàn dân đánh giặc với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”3. Cuộc đấu tranh chính nghĩa, mục tiêu đấu tranh mang tính nhân văn cao cả ấy đã giúp chúng ta luôn nhận được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè và nhân dân yêu chuộng hòa bình ở các nước trên thế giới, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi to lớn trong hai cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

bacho-af805

Tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện

Trong tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung hết sức quan trọng trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân, đó là tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng là việc chung của toàn thể dân chúng, chiến tranh cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, phải dựa vào dân. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Namthì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”4; thực hiện đánh địch bằng mọi thứ vũ khí, phương tiện với tinh thần “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”5.

Người chỉ rõ: Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc được độc lập thì ai cũng được tự do, nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Vì vậy, ai cũng phải tham gia kháng chiến, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp để cứu nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân, “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”6.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn động viên toàn dân tham gia kháng chiến thì phải nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc và vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất - một tổ chức thích hợp nhất để tập hợp toàn dân, được xây dựng trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; coi trọng xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, lấy xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang; đặc biệt phải coi trọng yếu tố con người, xây dựng lực lượng vũ trang với chủ trương “người trước, súng sau”.

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: “chiến tranh là sự thử thách toàn diện giữa các bên tham chiến”, Hồ Chí Minh chủ trương chiến tranh toàn dân phải gắn liền với chiến tranh toàn diện nhằm đánh địch trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; dùng toàn lực của nhân dân để ứng phó với địch. Người cho rằng: có thực hiện chủ trương chiến tranh toàn diện mới thu hút, tập hợp được toàn dân kháng chiến. Ngược lại, có huy động toàn dân kháng chiến mới có đủ lực lượng tiến hành chiến tranh toàn diện, tạo sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến tranh.

Thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh ngoài nước

Trên cơ sở nắm vững quy luật của chiến tranh cách mạng và kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổ tiên ta đời Trần, vì già trẻ một lòng trường kỳ kháng chiến, mà đánh tan giặc Nguyên. Nay chúng ta cũng già trẻ một lòng, trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp”7. Theo Người: “Kháng chiến phải trường kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài”8. Đánh lâu dài là do tương quan so sánh lực lượng ban đầu giữa ta và địch, địch dựa vào thế mạnh về quân sự, kinh tế để thực hiện đánh nhanh, thắng nhanh; ta phải trường kỳ kháng chiến để tránh thế mạnh ban đầu của địch và có thời gian chuyển hóa lực lượng từ yếu thành mạnh để thắng địch. Hồ Chí Minh dạy: Địch muốn tốc chiến, tốc thắng, ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng. “Giặc Pháp là “vỏ quýt dày”, ta phải có thời gian để mà mài “móng tay nhọn”, rồi mới xé toang xác chúng ra”9.

Người cho rằng: kháng chiến lâu dài không có nghĩa là trường kỳ mai phục, mà phải chủ động, tích cực, nỗ lực tiến công tiêu diệt địch, phát triển lực lượng của ta; thực hiện đánh bại từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch càng sớm càng tốt. Song, Người cũng luôn nhắc nhở phải chống khuynh hướng chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn; hoặc tư tưởng bi quan, ngại khó khăn gian khổ, không tin vào thắng lợi của chiến tranh.

Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài nhưng phải gắn liền với quan điểm tự lực cánh sinh - dựa vào sức mình là chính. Thực hiện tự lực cánh sinh nhằm “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, vì theo Người: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”10. Nhưng dựa vào sức mình là chính không có nghĩa là đóng kín quan hệ, không cần bên ngoài mà phải tăng cường quan hệ quốc tế, tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh ngoài nước, vì “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”; tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam nhưng không được trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm, phụ thuộc bên ngoài, đánh mất đi tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc.

Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc

Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đây là hình thức tổ chức sáng tạo, thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam; phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của chiến tranh nhân dân Việt Nam; phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, nhưng phải có lực lượng vũ trang tập trung đủ mạnh, bởi theo Người: “về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên,…, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”11. Bộ đội chủ lực là lực lượng giữ vị trí chiến lược quan trọng trong đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng, là lực lượng cơ động đánh địch trên chiến trường cả nước, “lo đánh những trận to để tiêu diệt chủ lực của địch. Phải giúp tổ chức và huấn luyện bộ đội địa phương và dân quân du kích”12.

Bộ đội địa phương là một bộ phận của quân đội thường trực, là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh vũ trang và chiến tranh nhân dân ở địa phương; cùng với bộ đội chủ lực và dân quân tự vệ tiêu diệt, tiêu hao lực lượng địch, bảo vệ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bộ đội địa phương phải phụ trách đánh những trận vừa vừa, và phải chuẩn bị chiến trường sẵn sàng khi Vệ quốc quân đánh trận to ở địa phương mình”13.

Dân quân du kích, tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng rộng khắp, tham gia đánh địch tại chỗ để bảo vệ xóm làng, đường phố, góp phần tiêu hao lực lượng địch, giam chân, phân tán, chia cắt địch, làm cho chúng mệt mỏi, đui mù, đói khát và suy yếu. Lực lượng này “như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước”14. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”15.

Như vậy, ba thứ quân trong lực lượng vũ trang ở Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với nhau, giữ vai trò quan trọng, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Cùng với nghệ thuật tác chiến tài tình, “lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”16 là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam.

Xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hậu phương chiến tranh - nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của hậu phương trong chiến tranh nhân dân ở Việt Nam: Hậu phương là nơi đứng chân của lực lượng cách mạng trong buổi đầu, nơi giữ gìn và phát triển lực lượng, cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, xây dựng và phát triển chế độ mới, là cơ sở chính trị vững chắc trong chiến tranh. Theo Người, “chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc. Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc. Đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương”17. Trong xây dựng hậu phương chiến tranh, Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,… Trong đó, Người đặc biệt coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng hậu phương gắn liền với xây dựng chế độ mới, làm cho nhân dân thấy rõ tính ưu việt của chế độ mới; qua đó, càng khơi dậy lòng nhiệt tình cách mạng, ý thức tự giác và niềm tin tuyệt đối của nhân dân với Đảng, với cách mạng.

Bên cạnh coi trọng xây dựng hậu phương chiến tranh vững mạnh, Hồ Chí Minh còn chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đánh giặc và nhiệm vụ kiến thiết, xây dựng đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân. Theo Người, kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc, “kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi”18. Quan điểm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc được Hồ Chí Minh cụ thể hóa thành các nhiệm vụ: diệt giặc ngoại xâm, diệt giặc đói và diệt giặc dốt. Đó là quan điểm chỉ đạo chiến tranh hết sức độc đáo, vừa thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong kháng chiến, vừa mang đậm tính nhân văn cao cả, luôn đề cao vai trò của nhân dân, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng sức dân. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc còn nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến lâu dài và tự lực cánh sinh của nhân dân ta. Trong điều kiện buổi đầu kháng chiến, ta bị địch bao vây, phong tỏa, gây cho ta nhiều khó khăn, gian khổ, vì vậy chỉ trên cơ sở thực hiện tốt chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, chúng ta mới có thể thực hiện kháng chiến lâu dài và tự lực cánh sinh giành thắng lợi.

Những nội dung đặc sắc của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân trong tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh là cơ sở, nền tảng hình thành đường lối, nghệ thuật quân sự của Đảng - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân có vai trò hết sức quan trọng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thiếu tá, ThS. Tạ Hữu Hùng

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 104, t. 5, tr. 178.

3, 4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 4, tr. 534.

6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 15, tr. 412; t. 5, tr. 517.

8, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 7, tr. 30.

10, 11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 7, tr. 445; t. 3, tr. 539.

12, 13, 14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 6, tr. 212.

15, 16, 17, 18. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t. 5, tr. 158; t. 3, tr. 539; t. 4, tr. 540; t. 4, tr. 114.