Trang chủ Tin tức Tin văn hóa tư tưởng Thể chế chính trị thế giới đương đại

Thể chế chính trị thế giới đương đại

Thể chế chính trị thế giới đương đại là một học phần trong chuyên ngành Chính trị học, đã được triển khai giảng dạy cho hệ cử nhân, phục vụ cho học viên nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Học viện Chính trị khu vực I. Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập môn học này, cuốn Giáo trình Thể chế chính trị thế giới đương đại do TS. Vũ Thị Như Hoa làm chủ biên, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản.

gt2

Giáo trình gồm 9 bài học, được biên soạn trên cơ sở tham khảo các tài liệu, giáo trình Thể chế chính trị ở trong và ngoài nước; cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về các thể chế chính trị trên thế giới; nghiên cứu cách thức tổ chức và cơ chế vận hành thể chế chính trị thế giới đương đại; làm rõ những giá trị phổ biến và xu hướng vận động của thể chế chính trị thế giới, từ đó tham khảo, liên hệ với quá trình hoàn thiện thể chế chính trị ở Việt Nam.

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về thể chế chính trị, tác giả đã lần lượt đưa ra các khái niệm về thể chế và thể chế chính trị cũng như việc phân loại các thể chế chính trị. Theo đó, thể chế chính trị được hiểu là một bộ phận của hệ thống các thể chế trong đời sống xã hội (bao gồm các thể chế kinh tế, thể chế văn hóa, thể chế xã hội và thể chế chính trị). Từ quan niệm chung đó có thể hiểu, thể chế chính trị là những nguyên tắc, quy định, quy chế, chuẩn mực, luật pháp gắn với các tổ chức thực hiện chức năng quyền lực chính trị, tác động, chi phối các quan hệ chính trị và hoạt động chính trị trong xã hội. Trên cơ sở đưa ra khái niệm và phân loại thể chế chính trị, tác giả đi sâu phân tích đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn học. Cuốn giáo trình cũng trình bày quá trình hình thành và những đặc trưng cơ bản của thể chế chính trị ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới như: Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc và thể chế chính trị của một số nước ASEAN.

Đối tượng nghiên cứu của học phần Thể chế chính trị thế giới đương đại là những quy luật, tính quy luật của quá trình hình thành, tồn tại và phát triển các công nghệ vận hành của các thể chế chính trị nhằm duy trì chế độ chính trị - xã hội và đảm bảo quyền lực thuộc về giai cấp thống trị. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra nội dung nghiên cứu của thể chế chính trị là các nước: Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nga…và một số nước Đông Nam Á.

Thông qua việc phân tích và trình bày về lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của một số thể chế chính trị ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới, tác giả cũng giúp người đọc thấy được giá trị phổ biến và xu hướng vận động của thể chế chính trị thế giới đương đại cũng như những mặt khác biệt về thể chế giữa các nước. Chẳng hạn, thể chế chính trị Mỹ là kiểu tổ chức quyền lực nhà nước tiêu biểu cho kiểu thể chế chính trị “Cộng hòa Tổng thống”. Trong đó, Tổng thống - là người có vai trò quan trọng, giữ vị trí nổi bật và là hình ảnh tiêu biểu, biểu tượng của Nhà nước Mỹ. Theo kiểu tổ chức đảng cầm quyền, thể chế chính trị Mỹ là thể chế chính trị “lưỡng đảng” điển hình, cơ cấu kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Khác với thể chế chính trị Mỹ, thể chế chính trị Cộng hòa Liên bang Đức là mô hình điển hình của chính thể Cộng hòa đại nghị, với ưu thế nghiêng về quyền lập pháp và Quốc hội. Trong đó, Quốc hội là cơ quan tối cao, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp Liên bang; Thủ tướng nắm quyền lực điều hành nhánh hành pháp.

Cuốn sách cũng tập trung phân tích thể chế chính trị của một số quốc gia khác, như: Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc. Cụ thể, khi nói đến thể chế chính trị Pháp, tác giả chỉ rõ thể chế chính trị Pháp là chính thể cộng hòa “lưỡng tính”. Điều đó được thể hiện ở chỗ chính quyền hành pháp của Pháp mang những đặc điểm quan trọng của chính thể cộng hòa tổng thống và mang những nét điển hình của chế độ đại nghị. Điều đặc biệt là Chính phủ Pháp vừa do Tổng thống, vừa do Thủ tướng đứng đầu. Ở Pháp, chính phủ (thủ tướng và các bộ trưởng) không những phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, mà còn phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống. Đối với Thể chế chính trị Anh - đất nước với hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng, có nền chính trị dân chủ nghị viện, vận hành theo chế độ quân chủ lập hiến. Nhà nước liên hiệp vương quốc Anh và Bắc Ailen là nước tam quyền phân lập không rõ ràng. Nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cả cơ quan hành pháp và lập pháp; Thủ tướng có quyền lực trong cả lập pháp và hành pháp.

Thể chế chính trị Liên Bang Nga là chính thể cộng hòa tổng thống có nét nghị viện hay chính thể cộng hòa hỗn hợp. Điều đó được thể hiện ở một số đặc điểm như: thể chế chính trị Nga mang một số đặc trưng chính thể cộng hòa tổng thống, nghĩa là tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra. Tổng thống hoạt động độc lập với các cơ quan khác và chịu sự chi phối ít nhất từ phía cơ quan này. Bên cạnh đó, Liên bang Nga là nước có thể chế đa đảng, hiện nay ở Nga có tới 95 đảng, tuy nhiên tỷ lệ người dân tham gia vào đảng là rất ít.

Không giống với thể chế chính trị Nga hay một số quốc gia khác, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nước xã hội chủ nghĩa của chuyên chính dân chủ nhân dân. Thể chế chính trị Trung Quốc xây dựng theo mô hình “Cộng hòa Dân chủ Nhân dân” với nền tảng là liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Ở Trung Quốc, Đại biểu nhân dân (Quốc hội) là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền hành lập Chính phủ, bầu Chủ tịch nước, các cơ quan Tư pháp Hội đồng quân sự Trung ương, thực hiện quyền giám sát tối cao. Chính phủ là cơ quan hành pháp, giữ vai trò hành chính, đảm bảo tính thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trung Quốc là nước có hệ thống chính trị đa đảng nhưng không đối lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Ngoài ra, giáo trình cũng nghiên cứu về thể chế chính trị ở một số nước Đông Nam Á tiêu biểu, Vương quốc Thái Lan, Vương quốc Mailaixia, Cộng hòa Inđônêxia và Cộng hòa Xingapo.

Mỗi bài học của giáo trình đều có sự tóm lược những kiến thức cơ bản, những tư tưởng cũng như những kỹ năng cần thiết mà người học cần phải nắm được: kỹ năng đọc và phân tích nội dung được học. Đặc biệt, cuối mỗi bài đều có những câu hỏi ôn tập và thảo luận nhằm thúc đẩy khả năng tư duy của người học.