Trang chủ Tin tức Tin văn hóa tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam

Không chỉ là một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một cây bút xuất sắc trên lĩnh vực báo chí và văn học, một nhà báo lớn, người khai sinh ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam. Qua thực tiễn làm báo, Người đã để lại nhiều quan điểm và suy nghĩ sâu sắc về hoạt động báo chí - là “cẩm nang” soi đường cho Báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và mỗi người làm báo nước nhà nói riêng.

HoChiMinh-Nguoi-khai-sinh-ra-nen-bao-chi-cach-mang-viet-nam

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc viết báo và làm báo. Trong những năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã có nhiều bài viết đăng trên các báo nổi tiếng của Pháp, Liên Xô, Trung Quốc. Tại Pháp, Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo Ng­ười cùng khổ (Le Paria), nhằm tố cáo bản chất tàn bạo của thực dân Pháp, làm cho Quốc tế Cộng sản và nhân loại tiến bộ tích cực ủng hộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Tháng 6-1925, tại Trung Quốc, Người đứng ra thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và sáng lập ra Báo Thanh niên - cơ quan ngôn luận của Hội, xuất bản số báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ vào ngày 21-6-1925. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu mốc khởi nguồn cho Báo chí cách mạng Việt Nam. Người đã dùng tờ báo này làm công cụ tuyên truyền con đường cách mạng giải phóng dân tộc, để tập hợp và giác ngộ quần chúng, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Người đã tự học cách viết báo, làm báo. Theo Hồ Chí Minh, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền, khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã viết đăng trên 2.000 bài báo bằng nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại; gần 300 bài thơ, 500 trang truyện và ký, với nhiều bút danh khác nhau. Người đã từng làm mọi việc của nghề báo, từ viết bài, sửa bài, biên tập, tổ chức in ấn, phát hành, đến tổ chức, lãnh đạo và chỉ đạo việc làm báo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trực tiếp sáng lập ra 9 tờ báo: Người cùng khổ năm 1922; Quốc tế Nông dân năm 1924; Thanh Niên năm 1925; Công Nông năm 1925; Lính Kách mệnh năm 1925; Thân ái năm 1928; Đỏ năm 1929; Việt Nam Độc lập năm 1941; Cứu quốc năm 1942. Với nhiều bút danh khác nhau, Người đã viết nên những tác phẩm báo chí xuất sắc và bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Hán, Việt... Mỗi bài viết của Người với nhiều chủ đề đa dạng, sinh động; văn phong độc đáo, gần gũi, dễ nhớ và dễ hiểu, phản ánh đúng thực tiễn cuộc sống của người dân lúc bấy giờ nên các tác phẩm đó có sức lan tỏa và ăn sâu, sống mãi trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.

Bên cạnh các tác phẩm báo chí xuất sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng đặc biệt có giá trị, đó là “Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng”. Trong đó, bao gồm các quan điểm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tính chất của báo chí cách mạng; về vai trò, nghĩa vụ, đạo đức, tư cách của người làm báo; về nghệ thuật trong “cách viết” để làm nên một tác phẩm báo chí và tờ báo có giá trị, bởi Người quan niệm rằng, công việc viết báo và làm báo là “công tác cách mạng” để “phụng sự Tổ quốc”, “phụng sự nhân dân”, “phụng sự giai cấp và nhân loại”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, đế quốc, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Những bài báo của Người dù viết dưới bút danh nào, ngôn ngữ gì cũng đều chứa đựng lượng thông tin phong phú, trung thực, diễn đạt trong sáng, giản dị, thể hiện tầm nhìn, sự uyên bác về tri thức được kết tinh từ vốn văn hóa dân tộc và nhân loại.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của Báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của Báo chí cách mạng Việt Nam, trong đó có việc đào tạo đội ngũ những người làm báo. Qua thực tiễn hoạt động, sáng tạo trên lĩnh vực báo chí, Người đã để lại di sản báo chí vô cùng quý giá, thể hiện sinh động những quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng, thời đại, nhân dân, về kinh tế, chính trị, văn hóa. Những lời dạy của Người vẫn giữ nguyên giá trị, trong đó có nhiệm vụ của Báo chí cách mạng Việt Nam.

Theo Người, nhiệm vụ của báo chí là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa họ đến với mục tiêu chung của cách mạng; là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Báo chí phải có tính Ðảng, tính tư tưởng, tính chính trị, tính chiến đấu, tính quần chúng, chân thật và khoa học bởi: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu1. Người nhắc nhở, viết về chính trị phải nắm cho chắc, không khô khan và tránh hai điều: Một là rập khuôn, hai là dùng nhiều chữ nước ngoài. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo”2 và “Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”3.

Nhận thức sâu sắc về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng đối với đời sống xã hội, Người khẳng định: “Báo chí cộng sản chủ nghĩa có nhiệm vụ làm cho các chiến sĩ của chúng ta hiểu rõ vấn đề thuộc địa, làm thức tỉnh sự đồng tình hưởng ứng của quần chúng lao động ở các nước thuộc địa, tranh thủ họ tham gia sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản”4. Báo chí cách mạng không có lợi ích, mục đích gì khác là phụng sự lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân. Người cũng nhấn mạnh: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ cho nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”5.

Tháng 9-1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Người thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của báo chí nước nhà bấy giờ: “Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng”6; “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta”7; “Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng”8; “Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau”9.

Hồ Chí Minh nhắc nhở, bên cạnh việc đấu tranh chống cái xấu, báo chí phải cổ vũ nhân tố mới, nêu gương người tốt việc tốt. Người căn dặn: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”10. Người chỉ đạo và khuyến khích tổ chức viết gương “Người tốt việc tốt” và in thành sách tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng phải mang tính tiên phong, định hướng trong cuộc sống. Bởi, báo chí cách mạng là vũ khí đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, tác động sâu xa đến mọi mặt của đời sống xã hội, nên phải giữ vị trí tiên phong, mở lối, truyền bá những tư tưởng và tri thức tiến bộ đến với nhân dân.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Tư cách của người làm báo cách mạng"

Đối với những người làm báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, nhà báo trước hết là người cán bộ cách mạng, gắn cuộc đời mình với dân tộc, trung với Đảng, với nhân dân. Người đã nhiều lần nhấn mạnh đến tư cách chiến sĩ của nhà báo, và để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”11... Người chỉ rõ, nhà báo phải có dũng khí, không bẻ cong ngòi bút, và muốn vậy phải có “lập trường chính trị vững chắc12.

Dù bận trăm công, nghìn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tận tâm chỉ dẫn nghiệp vụ cho các nhà báo như một đồng nghiệp, người bạn, người thầy. Người nêu rõ những vấn đề cơ bản đối với người làm công tác báo chí đó là: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào? và đưa ra cách giải quyết cặn kẽ, phù hợp các vấn đề đó. Người căn dặn: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi... Viết phải thiết thực, “nói có sách, mách có chứng”, tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?”13.

Theo Hồ Chí Minh, báo chí là một mặt trận, “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”14. Người yêu cầu: “tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”15.

Bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ mục đích viết báo “không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”16. Vì vậy, khi viết xong bản thảo thì mỗi người “phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh, đọc lại”17. Người còn chỉ huấn: “Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi”18.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tư cách người làm báo, coi nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Do vậy, nhà báo phải có đủ phẩm chất của người cán bộ cách mạng, là người đi tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ người khác, nên phải làm gương cho người khác. Người dạy: “Viết phải thiết thực, “nói có sách, mách có chứng”... Chống tham ô, lãng phí thì nêu rõ ai tham ô, ai lãng phí? Cơ quan nào tham ô? Lãng phí cách thế nào? Ngày tháng nào? v.v.. Chớ viết lung tung”19.

Người đem kinh nghiệm làm báo của mình để tâm sự với các nhà báo. Trường học làm báo của Hồ Chí Minh là trường đời. Cho nên, Người luôn luôn khuyên các nhà báo phải: “Học ở đâu, học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng”20. Nhà báo, trước hết là người cán bộ cách mạng, gắn cuộc đời mình với dân tộc, trung với Đảng, với nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang đó, Người chỉ huấn các nhà báo: “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”21.

Theo Người, quần chúng nhân dân với tư cách là đối tượng phục vụ của báo chí phải có mặt ở hầu hết các khâu của quy trình hoạt động báo chí. Quần chúng nhân dân là đối tượng cung cấp, tiếp nhận thông tin, đồng thời cũng là đối tượng thẩm định các tác phẩm báo chí. Về nội dung phản ánh của báo chí cách mạng, Người nhấn mạnh: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”22. Hình thức diễn đạt, phương pháp thể hiện, cách trình bày, kết cấu tác phẩm báo chí phải trong sáng, dễ hiểu và tránh cầu kỳ. Người căn dặn: “Viết sao cho giản đơn, dễ hiểu, thiết thực. Sao cho mỗi đồng bào, mỗi chiến sĩ đều đọc được, hiểu được, nhớ được, làm được”23.

Sâu sát thực tế, sâu sát quần chúng, nói lên sự thật, đó là phong cách làm báo của nhà báo Hồ Chí Minh. Người cho rằng, viết báo không những chỉ viết những cái tốt mà còn phải viết những cái xấu để phê phán một cách đúng đắn, chân thành. Người cũng phê phán cách làm báo của một số nhà báo thiếu đi sâu vào đời sống thực tiễn nên viết càn, viết ba hoa, viết “dây cà ra dây muống”24 hoặc “tầm chương trích cú”25.

Theo Người, những người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ. Nhà báo phải kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Người dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp.

Những lời dạy của Người về “Tư cách của người làm báo cách mạng” có giá trị vô cùng sâu sắc, đòi hỏi những người làm báo cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên để có thể hoàn thành sứ mệnh của những nhà báo chân chính trong nền Báo chí cách mạng Việt Nam.

Trải qua thực tiễn hoạt động báo chí, từ nhận thức và quan điểm về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng của báo chí và tư cách của người làm báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người không chỉ dâng hiến cả cuộc đời cho dân cho nước mà còn là người khai sinh ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam - đã để lại di sản báo chí phong phú cho dân tộc ta và kinh nghiệm làm báo cho các thế hệ nhà báo hôm nay. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Người, mỗi nhà báo cách mạng luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng của báo chí đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi người cầm bút luôn coi mỗi tác phẩm báo chí cách mạng Việt Nam là vũ khí chính trị, tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động Việt Nam, phản ánh trung thực hơi thở cuộc sống, góp tiếng nói không nhỏ cùng dân tộc thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chú thích:

1, 16. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 167.

2, 3, 4, 9, 10, 11, 14, 18, 22, 23, 25. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 102; t. 15, tr. 668; t. 1, tr. 300; t. 13, tr. 464-465; t. 15, tr. 672; t. 13, tr. 466; t. 14, tr. 540; t. 13, tr. 465-466; t. 8; tr. 206; t. 6, tr. 165; t. 3, tr. 87.

5, 12, 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 166.

6, 7, 8, 24. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 464.

13, 17, 19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 208.

20, 21. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 163.

Trung Tá Đỗ Văn Trung

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng